Nghiên cứu khoa học
Sự hiện diện của cảm thức hiện sinh trong truyện ngắn Việt Nam sau 1986
9 năm trước
– TRẦN NHẬT THU – Từ sau 1986, văn học mang cảm thức hiện sinh đã tiến một chặng đường dài với nhiều tìm tòi, trải nghiệm và khẳng định. Những phạm trù hiện sinh truyền thống đến từ châu Âu đã có sự dung hợp, thích ứng với hoàn cảnh lịch sử và văn hóa Việt Nam, dần dần được đón nhận và đánh giá công bằng. Không tính đến khoảng thời gian mạch hiện sinh tạm thời đứt gãy thì văn học Việt Nam đã chứng kiến hai lần “vẫy gọi” của triết học hiện sinh: lần thứ nhất rơi vào khoảng những năm 50, 60 , lần thứ hai là những năm 80 của thế kỉ XX ( đặc biệt từ sau sau Đại hội đổi mới 1986). Trong hai lần “vẫy gọi” đó, lần thứ hai có thể xem như là sự bù đắp cho những điểm chưa tròn vẹn của lần “vẫy gọi” thứ nhất theo hướng tiến gần hơn đến những giá trị nhân bản tích cực, có sự thâm nhập với những trào lưu tư tưởng và lý thuyết hiện đại, hậu hiện đại. Phạm trù nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam theo xu hướng hậu hiện đại
9 năm trước
– NGUYỄN HỒNG DŨNG – Tiểu thuyết theo xu hướng hậu hiện đại đã đặt ra nhiều vấn đề mới đối với các nhà nghiên cứu – phê bình văn học Việt Nam, buộc họ phải có những cách thức nhìn nhận, soi xét từ những hướng nghiên cứu chưa có tiền lệ. Trong đó, trọng tâm nghiên cứu vẫn là vấn đề nhân vật. Vì, suy cho cùng thì các phương diện của nghệ thuật tự sự đều phải quy về nhân vật, vì nhân vật là tâm điểm của văn bản và trực tiếp gắn với bản chất của hoạt động sáng tạo: không có nhân vật không có nghệ thuật tự sự. Biểu tượng ngôi sao trong truyền thuyết dân gian người Việt
9 năm trước
– NGUYỄN THỊ QUỲNH HƯƠNG – Dẫu chỉ mới đề cập đến ngôi sao xuất hiện trong đời thực của truyền thuyết nhưng chúng tôi cho rằng không khó để xác định lớp nghĩa khởi sinh sự sống và những phẩm chất phi thường mà tác giả dân gian gởi gắm trong biểu tượng. Dường như ngôi sao – đá trời đã trở thành một biểu tượng cho sự liên thông của trời đất ở nhân vật. Đồng thời, đây cũng là biểu tượng thể hiện rất rõ sự ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc trong đời sống và văn hóa của người Việt. Một mạch nguồn len chảy và tăng thêm những tầng nghĩa của biểu tượng ngôi sao nói riêng và truyền thuyết dân gian Việt Nam nói chung. Nghệ thuật tự sự của Nguyễn Bình Phương trong tiểu thuyết “Mình và họ”
9 năm trước
– NGUYỄN VĂN HÙNG – Mình và họ là cuốn tiểu thuyết mới nhất của Nguyễn Bình Phương. Trước khi được xuất bản ở trong nước, bản thảo tác phẩm đã đi một chặng đường khá xa từ Hà Nội sang tận Nam California đến với cộng đồng độc giả người Việt. Sau khi được Diễn Đàn Thế Kỷ xuất bản tháng 12 năm 2011 với tên gọi Xe lên xe xuống, Nxb.Trẻ xuất bản năm 2014 với tên gọi Mình và họ, tác phẩm ngay lập tức lôi kéo sự quan tâm, chú ý của độc giả và giới nghiên cứu, phê bình trong và ngoài nước. Tiểu thuyết được đánh giá là “tiểu thuyết của các tiểu thuyết” (Đoàn Cầm Thi)(1), “cuốn sách hay quá chừng…, hoàn toàn chế ngự tôi” (Bảo Ninh)(2),… Vậy điều gì đã khiến tác phẩm này ghi dấu ấn mạnh mẽ trong cộng đồng diễn giải đến vậy? Tiểu luận của chúng tôi tập trung khám phá, luận giải những tìm tòi, thể nghiệm trong kỹ thuật tự sự của Nguyễn Bình Phương qua Mình và họ. Từ đó, khẳng định tài năng, cá tính sáng tạo cũng như vị trí của nhà văn trong dòng chảy văn học Việt Nam đương đại. Khoa Ngữ Văn: Hội thảo khoa học “ Yếu tố kỳ ảo và huyền thoại trong văn học”
9 năm trước
Sáng ngày 30/5, tại phòng hội thảo H2, Khoa Ngữ Văn, Trường Đại học Khoa học – ĐH Huế đã long trọng tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề “ Yếu tố kỳ ảo và huyền thoại trong văn học”.
Hội thảo đã thu hút các nhà khoa học, nhà văn, nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ở ĐH Huế và các đại học khác trong cả nước tham dự. Khoa Ngữ văn: Hội thảo khoa học “Phân tâm học với văn học”
9 năm trước
Sáng ngày 18/10/2014, Khoa Ngữ văn, Trường ĐH Khoa học đã long trọng tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề “Phân tâm học với văn học”. Hán Nôm học – khoa học liên ngành để phát triển đất nước
9 năm trước
– TRẦN TRỌNG DƯƠNG – Hán Nôm học là một ngành khoa học liên kết con người hiện đại, xã hội hiện đại với lịch sử và truyền thống văn hóa. Ngành khoa học này có một độ lùi nhất định so với cách ngành sử học, triết học, văn hóa…, nhưng độ lùi đó là cần thiết cho những nghiên cứu chuyên sâu luôn được khai thác từ những tư liệu gốc (original texts). Lý luận phê bình văn học Việt Nam đổi mới – cấu trúc tam tài và thế hệ F
9 năm trước
– PHAN TUẤN ANH – Có thể chia sự vận động và phát triển của văn học Việt Nam sau 1975 thành ba giai đoạn, gắn với ba hệ hình văn học cơ bản là tiền hiện đại, hiện đại và hậu hiện đại liên quan đến những đặc trưng nghệ thuật, điều kiện (condition) về văn hóa và chính sách quản lý văn nghệ của các cấp lãnh đạo. Ba bước chuyển hệ hình (paradigm) này gắn với ba giai đoạn cơ bản tạm phân chia là 1975 – 1986, 1986 – 1999, 2000 – 2016 mặc dù những đặc tính của các giai đoạn có thể chồng lấn và kế thừa lẫn nhau. Ba giai đoạn này có những khác biệt, thậm chí đối lập, phủ định một cách sâu sắc, nhưng lại có những mối quan hệ biện chứng hữu cơ không thể tách rời mà chúng tôi gọi là cấu trúc tam tài. Lý luận phê bình văn học thời kỳ đổi mới
9 năm trước
– PHẠM PHÚ PHONG – Khác với các lĩnh vực kinh tế – xã hội khác, sự vận động và phát triển của văn hóa/ văn học nghệ thuật là một dòng chảy liền mạch lâu dài, liên tục, trên đó, có thể được cắm những dấu mốc quan trọng định vị sự đổi thay, nhưng không hề đứt đoạn.
Vì vậy, đối với lý luận phê bình, thể văn được mệnh danh là luôn “đi trước một bước”, không phải đợi đến đại hội lần thứ VI, tháng 12 năm 1986, Đảng đề xướng công cuộc đổi mới, lý luận phê bình mới bắt đầu “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật” Đổi mới tư duy lý luận trong khoa nghiên cứu văn học ở Việt Nam từ 1986 đến nay
9 năm trước
– HUỲNH NHƯ PHƯƠNG – Kể từ khi kết thúc hai cuộc kháng chiến 1945-1975, bốn mươi năm đã trôi qua. Kể từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới đất nước năm 1986, cũng sắp gần ba mươi chẵn. Giữa hai mốc lịch sử 1975-1986 là hai cuộc chiến tranh biên giới, chính sách cấm vận của Mỹ, những trì trệ của nền kinh tế tập trung quan liêu thời hậu chiến đã chứng kiến biết bao khó khăn, gian khổ của đất nước.
Dù sao, thời gian đó cũng tạo điều kiện cho sức sáng tạo của dân tộc được phục hồi trong xây dựng kinh tế và văn hóa. Riêng trong lĩnh vực văn học, có thể nói đến một bước ngoặt về tư duy lý luận thể hiện trong hoạt động nghiên cứu, phê bình, có tác động tích cực đến sáng tác, thưởng ngoạn và tiếp nhận từ 1986 đến nay.
