TỔNG TẬP VĂN HỌC DÂN GIAN XỨ HUẾ – VÈ, TRUYỆN THƠ (TẬP III)

1 tháng trước

 

KHÁI LƯỢC VỀ VÈ VÀ TRUYỆN THƠ XỨ HUẾ

1. Các nhà nghiên cứu thường lưu ý đến khía cạnh thông tin, thời sự của vè và gọi nó là tờ báo (loại “khẩu bảo”) của thôn làng. Có thể nói, đưa một tin tức mới đến với mọi người là chức năng của thể loại này. Về cơ bản, một cái tin đòi hỏi phải có một bố cục rõ ràng, bao gồm thời gian (thời điểm công bố bài vè); không gian (thôn làng. khu phố cụ thể); sự việc, diễn biến của sự việc (một chuyện đáng kể, đáng đưa tin: như cô Bắc chửa hoang, ông Nam tuổi bảy mươi còn cưới vợ bé, lụt bão gây hại cho người và môi trường sống, Pháp đánh chiếm Thuận An,…); hệ quả của sự việc (như cô Bắc xấu hồ phải bỏ làng ra đi, quân ta đánh trà bọn Pháp xâm lược hết sức dũng cảm nhưng vì vũ khí thô sơ nên đã hi sinh gần hết và Thuận An thất thủ,…); và nêu nhận xét, bày tỏ thái độ của người đưa tin (phê phán, tán thành,…). Một cái tin, đồng thời, cũng đòi hỏi sự hấp dẫn, mới lạ đối với người tiếp nhận. Và bên cạnh đó, trước những điều mới mẻ, bất thường cần biết, cũng hình thành một xu hướng có tính chất bảo thủ, là đề ra (thật chất là củng cố lại) những quy tắc cơ bản của đạo lí, của nề nếp xã hội, nhằm nhắc nhở, cảnh giác để con người tránh được những điều không hay, những sự chẳng lành.

Vè hội đủ các yếu tố vừa nêu. Do vậy, thông tin (hiểu là: điều được truyền đi cho biết) là đặc điểm cơ bản của thể vè. Đặc điểm này được ghi nhận khi xem xét tổng thể các văn bản vè trên bình diện thể loại. Nó quyết định hệ thống phân loại vè (phân loại dựa trên nội dung, tức đối tượng mà vè đề cập), cả trường hợp ở mức khái quát, khi chia vè ra làm hai loại, vẻ sinh hoạt và vè lịch sử. Vì sự phân loại như vậy chủ yếu dựa vào tầm mức ảnh hưởng hay phạm vì tác động của đối tượng được vè thể hiện (ở bình diện lịch sử, xã hội), chứ không xuất phát từ tính chất, đặc điểm của thể loại vè.

1.1. Trong tổng số 91 bài vè sưu tầm được ở Thừa Thiên Huế, về sinh hoạt chiếm 41 bài, vè lịch sử chiếm 50 bài.

+ 41 bài vè sinh hoạt, chia ra:

1)    Thói xấu – 16 bài; B) Vè về những việc làm cực nhọc, hay phải đi ở đợ, đi lao dịch, quân dịch – 8 bài Vè về những điều bất thường trong cuộc sống, gồm 30 bài; chia ra: A) Vè về các dịch – 8 bài; C) Vè về duyên phận không may – 6 bải;

2)     Vè về lụt bão, mất mùa đói kém, gồm 6 bài; chia ra: A) Vè lụt bão – 3 bài; B) Vè về việc mất mùa, đói kém – 3 bài);

3)    Vè răn dạy, bảo ban, gồm 5 bài.

+ 50 bài vè lịch sử, chia ra:

1) Vè về những sự kiện, biến cổ, nhân vật triều Nguyễn và chính quyền Sài Gòn, gồm 7 bài;

2) Vè chống ngoại xâm (do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo) gồm 43 bài, chia ra: A) Vè chống Pháp – 27 bài; B) Vè chống Mĩ, 16 bài.

Sự phân loại loại này phù hợp với đặc điểm của thể loại vè vừa trình bày ở trước. Ở loại vè sinh hoạt, vè về lụt bão, mất mùa, đói kém cũng thuộc “những điều bất thường”, cái khác là một bên thuộc con người và xã hội con người, còn bên kia thuộc tự nhiên (thời tiết, khi hậu). Ở loại vè lịch sử, vè chống ngoại xâm, còn được phân thành các loại nhỏ hơn. Chẳng hạn, 27 bài vè chống Pháp (của tiểu mục A), được chia thành: a) Vè về các tình huống, trận đánh – 6 bài; b) Vè về các phong trào – 11 bài; c) Vè về tình quân dân – 6 bài, d) Vè về thắng lợi, tổng kết cuộc chiến – 4 bài.

1.2. Các đơn vị vè xứ Huế được giới thiệu ở sách này ra đời từ 1975 trở về trước, chủ yếu từ nửa cuối thế kỉ XIX đến nửa đầu thế kỉ XX. Đây là thời kì nhà Nguyễn bắt đầu suy thoái và đi đến chấm dứt vai trò lịch sử của mình, đồng thời, cũng là giai đoạn thực dân Pháp xâm lược nước ta và cuộc chiến tranh vệ quốc cam go mà vô cũng oanh liệt của dân tộc trong suốt một thế kỉ.

         1.2.1. Về sinh hoạt

  1. Về về những điều bất thường trong cuộc sống
  2. Vè về các thói xấu

Các thói xấu như lười biếng, tham ăn, đánh bạc, dối trá, ham trai mê gái…. đều trở thành đối tượng phê phản của vè: Vè mụ nhác, Vè ăn hàng, Vè đánh bạc, Vè thầy pháp, Vè con gái hoang thai, vè ông Bộ Đông Xuyên cưới vợ hầu….

Dưới đây, là vài đoạn:

Ăn rồi lại ngủ,

Ngủ rồi lại ngồi

Nước cháy bỏng trôi,

Mỗi ngày qua bữa. (Vè mụ nhác)

–  Gà xôi đâu, đem ra xẻ dọn,

Cua cúng đâu, đưa thấy xem cọng,

Rượu cũng rồi, xách thẩu ra đây!

Mền, phao câu riêng một dĩa cho thầy,

Chủ có cúng bánh tày, sao mà chẳng dọn? (Vè thẩy pháp)

Ông làm hương bộ trong làng.

Sáu mươi ba tuổi, đi cưới o hàng bán ca.

Người thời mặt trắng như ngà,

Nhỏng nhỏng nhẻo nhẻo, khác thể như con ma trên mồ!  (Vè ông Bộ Đông Xuyên cưới vợ hầu)

Đáng chú ý ở nhóm về này là Vè mụ Quýt. Vè mụ Quýt kể chuyện mụ Quýt goá chồng ở tuổi ba mươi, một nách ba con dại, đi bước nữa với ông thợ mộc tên Quy, tuổi đã lục tuần, có vợ nhưng không có con. Cả hai nhân vật đều bị phê phán về việc thiếu thuỷ chung. Bài vẻ gồm 182 dòng thơ lục bát, với bố cục mạch lạc, lời lẽ trôi chảy, có chất tạo hình khá cao. Dưới đây là đoạn “đặt điều kiện” cho phía đối tượng của hai người, để tiến tới việc kết hôn:

“Ông mà thương tưởng đến tôi,

Mỗ ấy phải đắp cho rồi mới hay.

Ông muốn tôi đỡ chân tay,

Trầu rượu hương khói làm chay mới đành.

Con tôi ba đứa sơ sanh,

Ông mà bảo đảm, tôi đành lòng thương”.

Thợ Quy nghe nói tỏ tường,

Vẫn sợ không thật, tỉnh phương thử liều:

“Đó đà đảnh dạ kết duyên,

Ông kia nếm nhuy mới yên dạ này!” (1)

  1. Vè về những việc làm cực nhọc, hay phải đi ở đợ, đi lao dịch, quân dịch

Đó là các bài Vè lầm than, Vè đi ở, Vè đi phu đồn điền, Vè làm đường núi, Vè áo xanh, Vè đi lính mộ… Những việc làm được vè thể hiên cho thấy con người đầu tắt mặt tối, và bị tước mất nhân phẩm, tự do:

–        Tháng ngày dầu dãi nắng mưa,

Nón cời, tơi rách, áo cũng chẳng lưa đinh tà.

Con người xương sát tận da,

Trên thì muỗi cắn, dưới đà sên bu. (Vè đi làm đường núi)

–  Ra đi thương vợ nhớ con,

Không đi thì sợ roi đòn vô lưng.

Ngày xưa nguyện một hai đừng.

Nay chữ xao xác, muốn lui chân chiếc tàu.

Lạy trời chớ ốm, đừng đau.

Cho đi năm trước, năm sau tui về. (Vè đi lính mộ)

–  Ngủ dậy bữa mai năm giờ, kêu tên phải dạ,

Công việc – ngày nào như ngày nấy chẳng sai.

Lỡ ra cai đánh, xếp tai,

Nghĩ tấm thân khố đà quá khổ!

Ngủ dậy sớm mai gánh thùng đi cạo mủ,

 

Trên coi khinh mà dưới cũng coi khinh. (Vè đi phu đồn điền)

  1. Vè về duyên phận không may

Duyên phận không may, ở một chừng mực nhất định (hay một sự nhìn nhận tương đối), cũng là chuyện bất thường trong cuộc sống. Thường gặp là cảnh lỡ làng, phận lẽ mọn. Âm hưởng chung của nhóm vè này là sự than trách:

Cực chỉ mà cực quá chừng,

Không trai lấy gái thế phần con trai.

Cơ chi cha có con trai,

Làm răng đến nỗi con lạc loài căn duyên!

Đêm nằm càng nghĩ càng phiền. (Vè con gái muộn chồng)

– Thân em như thể ngọn rau,

Đói lòng ăn lấy, có đâu như mận đào.

Nghĩ mình tủi phận biết bao,

Ngày xưa má thắm hồng đào như ai.

Bây giờ xoá mái tóc mai,

Vô duyên xấu số nên lỡ hai lời thề!

Đêm hôm cô quạnh phòng khuê,

Canh tàn không ngủ, bốn bề tính toan. (Vè chồng một vợ hai)

  1. Vè về lụt bão, mất mùa đói kém

Có hai bài vè nói về trận lụt năm Quý Tị (1953), một bài về trận bão lụt lớn (không rõ năm). Chúng phần nào ghi nhận tình hình lụt lội khá nặng nề xảy ra trên vùng đất, vào khoảng từ tháng 8 đến tháng 10 âm lịch hàng năm. Dưới đây, là một đoạn trong Về trận lụt năm Quý Tỵ:

Nghe tin Phụng Hoá, Kim Hoà

Lút đồn Văn Thánh, xoã ngang trên thành

An Hoà, Mang Cá, Địa Linh,

Vân Thê, Đập Đá, chợ Dinh lút đầu.

Hai làng Bằng Lãng, Nguyệt Biều,

Nước chảy, người chết, số nhiều mất thây.

Những người trẻo vịn trên cây,

Bồng con quá lạnh sút tay té nhào!

Nạn mất mùa, đói kém thường là hệ quả của thiên tai, địch hoạ. Dù xuất phát t từ nguyên nhân nào, cảnh đói bao giờ cũng khủng khiếp:

Khổ thay cái đói năm ni,

Ông già bà lão ai thì cũng kinh.

Trị Thiên cho chí Quảng Bình,

Ngó trong ba tỉnh, cảnh tình như nhau.

Đói chỉ mà đói quá lâu:

Tháng tám năm trước đến đầu tháng tư! (Vê nạn đói Thân Dậu)

 

– Lá khoai, lá sắn, đọt dành,

Khiến con đi hái, để dành luộc ăn.

Lá bầu, lá mướp, là trăn,

Rau ngo, rau chiếu cũng ăn không chùa.

Rau mâu, chột bí, lá cừa,

Cũng đều tuốt hết chẳng lưa lá nào. (Vè bão lụt, đói kém)

  1. Vè răn dạy, bảo ban

Vè răn dạy, bảo ban, xét khía cạnh đặc điểm của thể loại vè, như một phản ứng tự vệ của con người trước những bất trắc, những điều không bình thường trong cuộc sống. Nhóm vè này do cha mẹ, người lớn tuổi làm ra để khuyên răn, dạy bảo lớp con cháu đang ở độ tuổi thanh thiếu niên. Các bài vè sưu tâm được, gồm Vè dạy con, Vè dạy con gái, Vè nhắc nhở học trò, Vè công ơn cha mẹ….

Những điều được dạy không ngoài đạo lý truyền thống của dân tộc (đạo hiểu, tam tòng, tứ đức, ngũ thường….):

– Gái thời giữ việc trong nhà,

Hình dung yểu điệu, nết na dịu dàng.

Khi ăn khi nói chững chàng.

Khi ngồi khi đứng nhẹ nhàng dung nghỉ. (Về dạy con)

– Biểu cho những lũ nam nhi,

Sĩ, nông, công, cổ nghề gì phải chăm.

Lên năm cho đến mười lăm,

Học hành làm trước để thăm tính, tài.

Nhân, nghĩa, trí, tín làm người,

Rành rẽ ứng đối là nơi học đầu. (Vè dạy con)

– Ở cho dậm dẹ người khen,

Gái thời chừng ấy chẳng hèn trước sau.

Miệng thời chớ nói làu láu, lùa lua,

Như hàng tôm hàng cá, là đồ không nên. (Vè dạy con gái)

Bên cạnh điều răn trực tiếp như vừa dẫn, có bài thiên về mô tả, nhằm gián tiếp dẫn đến lời khuyên; chẳng hạn:

–  Bồng ấp năm canh,

Ru hời sáu khắc.

Xương mòn ruột thắt,

Trăm đắng nghìn cay.

Uốn nắn chân tay,

Mem cơm đút cháo.

Bên ướt mẹ nằm,

Bên ráo con lăn. (Vè công ơn cha mẹ)

Nào lúc con bỏ chơi, biếng bú,

Mẹ quên ăn quên ngủ vì con

Đắng cay như ngậm bồ hòn,

Năm canh một mẹ, một con, một đèn!

Mẹ những chịu bao phen khổ sở,

Vào những khi con lở, con sài,

Khổ này có một không hai,

Ấp ôm nựng nịu bao nài tanh hôi. (Vè trách con bất hiếu)

1.2.2. Vè lịch sử

  1. Vè về những sự kiện, biến cố, nhân vật triều Nguyễn và Chính quyền Sài Gòn

Những sự kiện lớn của đất nước đã được ghi nhận qua các bài vè: Vè Tự Đức lên ngôi, Vè thuế thân, Vè Bảo Đại bảo hoàng. Vè chính sự miền Nam (1954-1963)….

Tự Đức lên ngôi năm 1847, lúc địa phương đang bị mất mùa, đói khó, lại phải phu phen rất nặng nề, khiến nhân dân rơi vào cảnh bần cùng:

Sự kiện Thuận An, cửa biển thông thương với nhiều vùng quê của đất nước, yết hầu của kinh đô Huế, bị giặc Pháp đánh chiếm ngày 20-8-1883, và chưa đầy hai năm sau, đêm 4 rạng ngày 5-7- 1885, kinh thành thất thủ (sau cuộc tấn công Pháp ở đồn Mang Cá do Tôn Thất Thuyết và Trần Xuân Soạn chỉ huy bị thất bại). Hai sự kiện này được phản ánh qua hai bài vè dài, sáng tác theo thể thơ lục bát: Vè thất thủ Thuận An (746 dòng) và Vẻ thất thủ kinh đô (1526 dòng).

Không thể nói những sự việc, vấn đề được hai bài vè đề cập là hoàn toàn xác thực; nhưng có thể tin tưởng là người sáng tạo không có dụng ý xuyên tạc, hay nguy tạo, hư cấu, mà chỉ có thể bị nhầm tưởng mà thôi. Bởi đây là cái nhìn của nhân dân: người trong cuộc đối với vận mệnh đất nước nói chung, người ngoài cuộc đối với các chủ trương, sách lược, chiến lược (cần bảo mật) của triều đình.

Có thể nhận ra điều vừa nêu qua một số trích đoạn sau (4 trích đoạn đầu thuộc về thất thủ Thuận An, 5 trích đoạn sau thuộc Vê thất thủ kinh đô).

–       Cảnh đám tang của vua Dục Đức:

Đến khi nhắm mắt xuôi tay,

Chỉ hai người lính khiêng rày đem đi.

Làm theo mật lệnh thuyền thi:

Đem lên chôn tại chu vi Ngự Bình.

Ai ngờ một việc thiên sinh:

Đến đồng An Cựu thình lình đứt dây.

Đi xa, gánh lại nặng thay;

Bàn nhau: “Chôn quách nơi này đi thôi!”.

–       Việc ta mua súng bắn chim của Pháp để đánh chúng và súng thần công lỗi thời của ta:

Giặc Tây đến đánh nước ta,

Ta mua súng nó để mà đánh nhau.

Biết rằng kẻ dại to đầu,

Bán cho còn nói vài câu nhún nhường.

Bán cho loại súng điểu thương,

Loại này là loại họ thường bắn chim.

Than ôi, vận nước đắm chìm,

Mới ra có sự cổ kim để cười!

Thần công thì thật trời ơi,

Nạy xeo không chuyển, nghĩ thời ruột đau!

Đạn to như thể cái đầu,

Bắn ra có chết ai đâu mà hòng!

–       Tình thần bất khuất, khí thế đánh giặc mạnh mẽ của quân đội ta:

Nịt nai giáo vác, gươm mang,

Hễ mà được lệnh, nhất tràng tấn công.

Gian nguy nào có sờn lòng,

Ngây ròng dãi nắng, đêm ròng dầm sương.

Dầu cho lao khổ trăm đường,

Quyết lòng bảo vệ biên cương Nam trào.

– Nhận xét và cảm xúc của tác giả bài vè về sự kiện Thuận An thất thủ:

Thuận An là chỗ yết hầu,

Nay Tây chiếm đoạt, thảm đau hỡi trời!

Hai hàng châu lụy ruôn rơi,

Trời già độc địa hại thời Nam bang.

Ngẫm xem lực lượng hai đàng,

Một trời một vực rõ ràng nói chi.

Đã thua phương tiện chuyển di,

Quân trang, chiến cụ đều thì thô sơ.

Dẫu lòng vị quốc vô bờ,

Mà thua khí giới, khó cơ kiên trì.

– Việc Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết giết vua Hiệp Hoà, Tôn Kiên Phúc lên ngôi, trước sự chứng kiến mà không can thiệp được của bà Thái hoàng Thái hậu Từ Dũ:

Đồng triều văn võ cầu nguyền,

Vái cùng thượng giới hoàng thiên nhưng là:

“Nay xin gởi đứa Hiệp Hoà

Tôn đức Kiến Phúc, nước nhà thong dong”

 

Thánh mẫu nghe nói hãi hùng.

Hai hàng nước mặt ròng ròng tuôn rơi:

“Thưa qua văn võ một lời,

Xin đừng bắt tội vậy thời làm chi!

Cho người xuống phủ một khi,

Xin đừng bắt tội, vậy thì nó oan!”.

Thị vệ vâng lệnh bá quan,

Phải nghe hai gã tam ban ngục hình.

–       Việc quan Tiễu phủ sứ Ông Ích Khiêm bị Nguyễn Văn Tường kết tội lưu đày:

Quan Quận đặt gối tâu qua:

“Tâu lên thánh đế, ông Tiễu mà khi quân!

Người mà nghịch lí khi quân,

Đày vô Bình Thuận, lên tuần Ai Lao;

Chớ cho lai vãng nội trào,

Cường ngôn nghịch lí, e phản phao đến mình”.

Quan Tiễu mắc phải vi binh,

Người trung mắc nạn lí hình nịnh gian.

–       Lời của Nguyễn Văn Tường nói với Tôn Thất Thuyết, khi ông Thuyết đề nghị ông Tường đồng tình với mình tổ chức cuộc tấn công sống mái với quân đội Pháp ở kinh thành:

Quan Quận khi ấy ngỏ lời,

Nói cùng quan Tướng: “Ngài thời phải suy,

Ngài là ngọc diệp kim chi,

Tôi là bách tánh, lo gì phận tôi.

Chừ ra chiến đấu, cự khôi,

Đồn tan luỹ nát, vậy thời hư hao.

Lánh nơi cửa kín thành cao,

Oai thương ra đến chốn nào cũng tan.

Năm Mùi thất thủ Thuận An,

Bao nhiêu bạc vàng đổ xuống biển Đông.

Thiên hạ ai cũng đau lòng,

Đông tây nam bắc vậy cùng than van.

Chừ ra cự chiến phiên bang,

Đá liều đá đánh với vàng, vàng hao.

Ai có tài ra chốn binh đao,

Miễn yên nhà nước, lẽ nào dám can”.

– Cảnh giặc Pháp đốt phá ngay sau khi chiếm được kinh thành Huế:

Đốt từ chợ Mới đốt đi ,

Hai bên phường điếm vậy thì phân vân.

Lấy kinh thành lại đốt lần lần,

Đốt trại Long Võ, đốt dần Tuyển Phong.

Thiên hạ ai cũng đau lòng,

Cửa nhà nó đốt, nó mong hại mình.

Bộ lại cho đến bộ hình,

Phố phường hai dãy, nép mình cháy tan.

–       Lời giải trình của Tôn Thất Thuyết (hay một vị quan đại diện đoàn phò giá vua Hàm Nghi) trước đồng bào thiểu số, về việc thất thù kinh đô, vua phải chạy lên vùng cao:

Đức Gia Long trước có phục tình,

Viện Tây khôi phục nước mình thành đô.

Mênh mông thế giới hải hồ,

Nợ cha con trả biết đời mô cho rồi?

Chẳng may tiên đế về trời,

Nó chiếm lấy đất vậy thời kéo sang.

Đầu thì nó lấy Thuận An,

Oai thương nó giết quân quan chẳng còn.

Nước mình đắp luỹ làm đồn,

Nó phá đi tan nát không còn chút chỉ.

Kính thành nó cũng lấy đi,

Phải phò ấu chúa vậy thì lên đây.

Chính quyền Sài Gòn, thời kì 1954-1963, bị Vè chính sự miền Nam (1954-1963) kết án nặng nề.

Trước hết, là bày trò gian lận để “chiếm đoạt cơ đồ”:

Mượn danh chánh thể cộng hoà,

Để ngầm sắp đặt truyền gia vương hầu.

Tính toan kế xảo mưu sâu,

Bày trỏ dân ý, trưng cầu phi vi:

Xanh bỏ giỏ, độ bỏ bì,

Bắt người bầu phiếu phải ghi thuộc lòng.

Kế đó là dựng lên một quốc hội bù nhìn:

Tiếp theo quốc hội bày trò,

Bắt dân bầu cử một pho bù nhìn,

Một phường giảo hoạt, xỏ xiên,

Khom lưng, mòn gối dưới quyền phụ nhơn.

Và suốt thời gian cầm quyền đã bức hiếp lương dân, hãm hại người đối lập:

Quyết tâm hãm hại dân lành,

Hại hàng đối lập tinh anh nước nhà.

Giả vờ Côn Đảo đày qua,

Máy bay cho lén theo mà thả bom,

Thà rằng tội đáng cho cam,

Trưởng tàu vô tội cũng ôm hận đời!

Hoặc xây hầm kín nhốt người,

Đêm ngày chẳng thấy mặt trời mặt trăng.

  1. Vè chống ngoại xâm
  2. Vè chống Pháp

+ Các tình huống, trận đánh:

Một số bài vè kể lại các tình huống, trận đánh trong cuộc kháng chiến chống Pháp diễn ra trên địa bản Thừa Thiên Huế, như: Vè Quảng Giang, Vè chiến thắng Thanh Hương, Vè trận cản năm Nhâm Thìn, Vè Tây phá đập của Thuận khiến nước mặn hại dân…. Dưới đây, là một số trích dẫn.

– Cảnh giặc Pháp chiếm làng, nhân dân lánh nạn:

Tháng giêng bốn bảy, ngày hăm ba,

Bao vây bốn mặt, Tây qua lần đầu.

Cơn khủng khiếp dắt nhau lánh nạn,

Vượt qua miền mưa đạn xâm lăng;

Quản bao thân phận nhọc nhằn,

Người vào trong rú, kẻ tìm trăm mà ra! (Về Quảng Giang)

–  Cảnh giặc đi lùng (càn):

Bước qua mồng một, sáng ngày,

Đem đi một số lùng ngay làng Hà.

Chủ trương bắt vịt, bắt gà,

Xúc heo lấy gạo, thực là quá tay !

Mồng hai mới được hai ngày,

Đem quân trên Huế, đỗ ngay Hải Đài.

Mồng ba chúng nó lùng dài,

Lùng vô Hà Ốc, lên Trài đóng quân.

Đồng bào Phú Hải xân vân,

Vai mang của cải, tay lần bồng con,

Đồng bào than khóc nỉ non,

Mùng mền hắn đốt không còn xí chi

(Vè trận càn năm Nhâm Thìn)

–  Cảnh bộ đội ta truy kích giặc:

Không ngờ bộ đội bọc sau,

Sáu giờ phát hoả lệnh đà tấn công.

Giặc Pháp khiếp vía hãi hồn,

Cùng nhau bỏ chạy xuống cồn ruộng sâu

Bộ đội truy kích bắt đầu.

Giặc Pháp chạy trước, ta sau đuổi dồn.

Thanh Hương thất bại hoàn toàn,

Thằng chết thằng chạy, đầu hàng phen ni.

Ưu Điềm chúng kéo quân đi,

Vĩnh An chận đánh, chúng thì chạy tan.

(Vè chiến thắng Thanh Hương)

+ Các phong trào:

Để huy động toàn dận kháng chiến, Đảng, chính quyền và các đoàn thể Cách mạng đề ra các phong trào. Các phong trào này thường được phản ánh qua một số bài vẻ. Số các bài vè ấy có thể do cán bộ chuyên trách (tuyên truyền, dân vận,…) làm nên, cũng có thể là những sáng tác tự phát trong dân gian.

Dưới đây, là một số trích dẫn về nhóm vè này (kèm theo tên bài vè là một đoạn của bài vè ấy).

–  Vè kêu gọi dân cày:

Muốn phá sạch nỗi bất bình,

Dân cày phải kiếm Việt Minh mà vào.

Để cùng toàn quốc đồng bào,

Đánh Pháp, đánh Nhật, gây phong trào tự do.

Dịp này là dịp trời cho,

Lo cứu nước, cũng là lo cứu mình.

– Vè kêu gọi phụ lão:

Đừng viện tuổi già mà mang nhục,

Nào gươm đâu? Đang lúc gặp thời cơ.

Bỏ tuổi già để ôn lại ngày thơ,

Đầu tuy bạc, lòng son còn giữ vững.

– Vè kêu gọi ủng hộ chiến sĩ:

Hỡi nhà tư bản,

Hỡi bạn công thương,

Chuẩn bị hậu phương,

Mau mau lo liệu!

Hoặc chăn hoặc chiếu,

Hoặc nệm, hoặc mền,

Hoặc những đồ len,

Hay là áo ẩm,

Nên đi mua sắm,

Giúp bạc giúp tiền,

Nhiều ít cũng quyên.

–  Vè khuyên con bỏ lính:

Trở về dân tộc, quê hương,

Quốc dân chính phủ sẵn sàng khoan dung.

Về đi con, chở ngại ngùng,

Về đi cho mẹ yên lòng, con ơi!

Về đi, cùng với giống nòi,

Cùng dòng máu Việt, giết loài ngoại xâm.

–  Vè khuyên chồng bỏ lính:

Thôi thôi, anh trở về thôi,

Cây cao chớ tưởng, lá dài đừng mong.

Đi không há lẽ về không,

Hãy mang vũ khí về cùng với ta.

Không thời trở súng bắn qua,

Để giặc Tây chết mà ra khỏi hàng.

+ Tình quân dân:

Nhóm về này thể hiện tình cảm quân dân khắng khít và hết sức cảm động trong cuộc kháng chiến. Chúng gồm các bài như: Vè thương cán bộ, Vè thương người Vệ quốc, Vè thương Giải phóng quản, Vè người đưa đò trên phá Tam Giang, Vè nhớ cả quê hương….

Có thể dẫn ra đây một số trích đoạn (ba đoạn đầu là tình của dân đối với quân, đoạn cuối là nỗi nhớ của người bộ đội ở chiến khu về thôn làng quê hương):

–       Thân anh khó nhọc không nài,

Xách đèn cảnh giới cho người yên tâm.

Ngày mai anh xuống nấp hầm,

Chờ em tin báo kéo lần anh lên. (Vè thương cán bộ)

– Chiều chiều lại nhớ chiều chiều,

Nhớ người Vệ quốc đạn vèo bên tai.

Giang sơn gánh nặng hai vai,

Đời anh đã phó cho đời nước non. (Vè thương người Vệ quốc)

– Anh theo bộ đội giết thù,

Mình em con dại, đưa đò sang sông.

Cầu cho kháng chiến thành công.

Cho người cán bộ sang sông nhớ thuyền.

(Vè người đưa đỏ trên phả Tam Giang)

Lòng tôi tha thiết yêu đồng.

Nhớ người, nhớ cảnh, nhớ sông, nhớ đò.

Nhớ mùa lúa chín thơm tho,

Nhớ cô thôn nữ, nhớ o bán hàng.

Nhớ người khắp cả xóm làng,

Nhớ người âu yếm, nhớ đàn thiếu nhi. (Vè nhớ cả quê hương)

+ Sự thắng lợi, tổng kết cuộc chiến:

Nhóm vè này biểu lộ niềm hân hoan trước thắng lợi, và có tính chất đúc kết cuộc chiến. Thời điểm ra đời của chúng là sau khi cuộc chiến tranh kết thúc, hoà bình được lập lại. Có bốn bài được sưu tầm. Dưới đây, sóng kèm với việc nêu tên là một đoạn trích của bốn bài vè ấy:

– Vè năm Ất Dậu 1945 (cảnh Nhật đảo chính Pháp, ngày 9-3-1945):

Thằng Pháp thúc thủ, bó tay,

Áo quần Nhật lột, tất giày Nhật mang!

Bao nhiêu kho gạo, kho lúa, kho bạc, đến chí kho vàng,

Bốn bề Nhật gác, bốn phía đàng Nhật canh.

Công sứ, Khâm sứ Pháp, Nhật giam tại Môranh,

Ba thằng Tây thượng lộ, Nhật bắt mình đi đuổi theo.

Thằng nào bắt được, trói lại ngó như heo,

Thằng nào bắt không được, cứ đuổi theo bắn hoài.

– Vè tám mươi năm khói lửa hung tàn:

Kẻ thời đau đớn chia li,

Vợ nam chồng bắc cũng vì chiến tranh!

Kẻ thời tan tác gia đình,

Mẹ thời giặc hiếp, thân hình thảm thương.

Cha thời sớm biệt quê hương,

Khăn tang từng mảnh đầy đường, vì ai?

–  Vè tám mươi năm đô hộ, dân tình xân vân:

Gớm ghê những lũ Tây tà,

Thuế điền, thuế thố cứ gia mãi hoài.

Quanh năm nợ trả không rồi,

Công sưu tư ích, lại lồi thuế thân.

Thuế thương chánh, thuế kiểm lâm,

Thuế đò, thuế chợ,… lần lần quá cao!

– Vè mừng độc lập, động viên phong trào bình dân học vụ:

Quốc ngữ là chữ nước mình,

Ai mà không học chẳng thành công dân.

Khuyên cùng đồng chí, đồng tâm,

Đồng bào nam nữ, quý ông, quý bà:

Hán tự là chữ Trung Hoa,

I tờ là chữ nước ta rõ ràng.

Biết đọc biết viết dễ dàng,

Tai nghe mắt thấy, vẻ vang tinh thần.

  1. Vè chống Mĩ

+ Các tình huống, trận đánh:

Một số tình huống, trận đánh trong cuộc kháng chiến chống Mĩ được ghi nhận, phản ánh qua một số bài vè, như: Vè Lợi Nông, Vè Phú Thạnh, Vè đồn địch Quảng Xuyên, Vè Côn Sơn, Vè tiếng mìn Đặng Lê… Tính chất ác liệt của cuộc chiến và lòng dũng cảm của quân dân ta có thể được nhận ra qua một số trích đoạn sau:

– Ông Kèo mắt chẳng thấy đường,

Tuổi già lụm cụm phất năn dưới bàu.

Bắn ông ngã giữa bùn sâu,

Già nua tàn tật Mĩ đâu có chừa.

Mụ Cách soi tép bên bờ,

Mỹ ra phục kích, bắn bừa gãy tay.

Ông Khâu bị giặc đoạ đày,

Lưỡi câu sắc ngạnh húc ngay trong mồm. (Vè Lợi Nông)

– En lờ mười chín: Alô!

Hỏi rằng Mĩ thắng hay thua trận này?

Chỉ huy mới trả lời ngay:

Thắng thua chưa biết, trận nay tan tành,

Huê Kì bỏ xác một trăm,

Xe tăng ba chiếc lật nghiêng xuống hào. (Vè Phú Thạnh)

– Ra đi súng nổ đùng đùng,

Trâu heo chẳng kể, hẳn lùng sạch trơn.

Đốt nhà, đốt cả đống rơm,

Lựu đạn nổ giữa mâm cơm trong nhà.

(Về đồn địch Quảng Xuyên)

– Đặng Lế dồn hết sức mình,

Dùng chân lỗi i sợi dây mìn nổ tung!

Cả thôn Mộc Trụ chuyển rung,

Tiếng min Đặng Lê tấn công quân thủ.

Từ trong khói bụi mịt mù,

Tiểu đội lính nguy vật vờ nằm lăn… (Vè tiếng mìn Đặng Lệ)

+ Các phong trào:

Một số bài vè có thể được ra đời từ các phong trào dân vận, địch vận, phong trào sinh viên học sinh thời kì chống Mĩ: Vè kêu gọi đồng bào đứng lên chống Mĩ nguy, Vè hàng viện trợ Mĩ quốc, Vè kêu gọi lính Trung đoàn 54 quay súng về với nhân dân,… Dưới đây, là một vài trích dẫn:

–  Đồng bào xứ Huế ta ơi,

Đứng lên đập nát cái ngôi bù nhìn!

Đứng lên giành lấy hoà bình,

Nhà ta, ta dựng; của mình, mình lo.

Đập cho Hương, Thiệu cuốn giò,

Đập cho giặc Mĩ lết bỏ cút đi!

(Vè kêu gọi đồng bào đúng lên chống Mĩ nguy)

–  Mênh mông bí hiểm giữa rừng,

Đừng nghe bọn giặc lục bùng làm chỉ.

Anh nhìn thế sự nghĩ suy,

Cơ đồ Mĩ Thiệu lâm nguy rõ ràng.

Mau mau vất súng về làng,

Vợ con cha mẹ hiện đang trông chờ.

Chớ nên bỏ lỡ thời cơ!

(Vè kêu gọi lính Trung đoàn 54 quay súng về với nhân dân)

+ Sự thắng lợi, tổng kết cuộc chiến:

Vè Thừa Thiên Huế kịp thời ghi nhận sự kiện giải phóng quê hương (26-3-1975) và thống nhất đất nước (30-4-1975). Niềm vui lớn này của dân tộc đã được một số bài vè phản ánh: Vè tháng ba 1975, Vè giải phóng miền Nam, Vẻ số vàng Phú Lộc,… Dưới đây, là một số trích đoạn:

–  Cảnh nhốn nháo của một số người dân tìm cách vượt đèo Hải Vân hay ra Thuận An di đường biển, để vào Đà Nẵng:

Người mô phú quý sang giàu,

Thuê xe vận tải chạy mau tới đèo.

Ra đi nhiều chuyện hiểm nghèo,

Súng kia quá bẩn, khó trèo vượt qua!

Không đi thì sợ quốc gia,

Đi thời pháo kích bắn ra ẩm ẩm.

Chín chiều ruột héo gan bầm,

Phen ni ông Thiệu dối lầm toàn dân.

Đưa đồng bào cho hỏng cẳng, sa chân,

Chạy đi lui cửa Thuận, trăm phần hiểm nguy. (Vè tháng ba 1975)

–  Cảnh quân lính chế độ Sài Gòn lần đầu tiên tiếp xúc với bộ đội Cách mạng:

Khi đó chúng chịu xuôi tay,

Cải trang quần áo, mặt mày xuôi lơ.

Thấy anh giải phóng treo cờ,

Giả đò đến hỏi “Mấy giờ rồi anh?”.

Mấy anh đáp lại thật nhanh:

“Quê hương giải phóng, các anh về nhà!”.

(Về giải phóng miền Nam)

–   Nhớ ơn những người đã ngã xuống cho nền độc lập, thống nhất của Tổ quốc, và hân hoan xây dựng cuộc sống mới:

Dân mình cực khổ lâu rồi,

Nay ta xây đắp lại đời sáng tươi.

Nghìn năm nhớ mãi không nguôi,

Ơn người ngã xuống, xây đời tự do.

Ngày nay áo ấm cơm no,

Dân cày có ruộng, tiếng hò trăm năm. (Vê số vàng Phú Lộc)

  1. 2. Khái niệm truyện thơ được dùng ở đây hiểu là truyện thơ dân gian (1), nó tương ứng với khái niệm truyện nôm bình dân hay truyện thơ nôm dân gian.

Theo Kiều Thu Hoạch, truyện thơ có các đặc trưng cơ bản sau: 1) Về phong cách thể loại, truyện thơ có một phong cách thể loại và một mô hình cấu trúc thể loại khá ổn định: đó là những kiểu câu mở đầu và kết thúc truyện theo những khuôn mẫu, sáo ngữ giống nhau; đó là mô hình kết cầu Gặp gỡ – Tai biến – Đoàn tụ, 2) Về mặt cốt.truyện, truyện thơ chủ yếu xây dựng đề tài cốt truyện từ các “truyện cũ”, “tích cũ”, “lục cũ”…  do đó, nó phản ánh hiện thực theo một phương thức đặc thù, mà không phản ánh hiện thực một cách trực tiếp, trực diện từ hiện thực lịch sử cụ thể, như các thể loại văn học khác; 3) Về phương thức sáng tạo và truyền bá, truyện thơ chủ yếu được sáng tác và lưu truyền bằng miệng: 4) Về nhân vật và cách sử dụng các biện pháp nghệ thuật, truyện thơ cũng như truyện cổ tích, nhân vật đều là loại tính và lí tưởng hoá chứ chưa phải là cá tính, các biện pháp lặp lại, sử dụng yếu tố thần kì, các mô típ dân gian, tính ước lệ và tượng trưng, công thức và phiếm chỉ,… được sử dụng rộng rãi.

Các đặc trưng này là cơ sở để xếp truyện thơ vào lĩnh vực văn học dân gian (1),

2.1. Số lượng truyện thơ sưu tầm được ở Thừa Thiên Huế không nhiều. Cho đến nay, dựa vào các đặc trưng về thể loại vừa trình bày và thực tiễn sưu tầm trên địa bàn, có bốn truyện thơ:

–  Truyện du lịch thiên đàng, gồm 143 dòng thơ,

–  Truyện trò Siêu, o Hiên, gồm 214 dòng thơ,

–  Truyện Thoại Hương, Quý Ngọc (mới sưu tầm được phần đầu), gồm 185 dòng thơ,

–  Truyện Mã Phụng, Xuân Hương, gồm 4267 dòng thơ.

2.2. Truyện du lịch thiên đàng do Nguyễn Kinh (1898-1947), một nghệ nhân hài, quê ở làng Trùng Hà, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên 2, sáng tác. Có khả năng Truyện du lịch thiên đàng ra đời vào năm 1934. Nhân vật truyện chính là tác giả (Nguyễn Kinh đồng thời cũng là tác giả – nhân vật chính của một loạt “truyện trạng” – xem tập II của bộ sách này).

Ông Kinh muốn ra nước ngoài học văn minh kĩ nghệ về khai hoá cho đồng bào mình, nhưng vì “mắc dây áp chế quyền cường” không đi được, bèn tính chuyện lên thượng giới. Do đường xe hoả chưa thông, ông đành đi bộ, theo lối các ông Táo. Kinh đến được thiên đình, vào yết Trời. Ông tấu trình mọi chuyện của đất nước: dân tình bị thực dân Pháp áp bức, khốn khó trăm đường, xin Trời can thiệp và cho mùa màng bội thu. Trời chuẩn tấu. Thấy Kinh nói năng rành mạch, trôi chảy, Trời muốn ban cho chức tước, nhưng ông từ chối. Ông trở về nhà, khuyên vợ con cố công cày cấy làm ăn.

Truyện có kết cấu mạch lạc, lời lẽ lưu loát; dưới lớp vỏ hài hước, là một tấm lòng nhân hậu, một tỉnh thần yêu nước thương người sâu nặng của tác giả.

Thử đọc đoạn Nguyễn Kinh vào yết Trời sau:

Trời bỗng phán một lời: “Miễn lễ!

Tâu dưới trần sự thể làm sao?”.

Tâu rằng: “Tựa bóng chiêm bao, Công hầu xe ngựa xôn xao trong vòng.

Tranh nhau chỉ vị hơi đồng,

Cướp nhau vì miếng định chung của đời!”.

Trời lại hỏi một lời đặc biệt:

“Ép phong trào, ai gây việc chiến tranh?”.

Thưa rằng: “Thống chế Pê-tanh,

Vốn tên tác loạn, giả danh hoà bình”.

Trời lại hỏi: “Tình hình nước Việt,

Hiện thế nào, tâu thiệt trẫm hay?”.

“Vải mười đồng có một thước tây,

Gạo mười giác sáu lon lút trật!

Xin Thượng Đế mở lòng nhân đức,

Cho mùa màng ngũ cốc phong đăng,

Cho dâu nhiều lá tầm ăn,

Cho gòn nhiều trái để hòng lấy bông…”.

Tuy nói đi du lịch thiên đàng, nhưng thật ra, Nguyễn Kinh đã đi“kêu Trời”, mong Trời can thiệp để đồng bào đang bị áp bức, lầm than có được cuộc sống an lành, no đủ. Điều này khiến người đọc không khỏi liên tưởng đến truyện cổ tích “Cóc kiện Trời”. Cái khác ở chuyện Cóc là điều tai hoạ (nạn hạn hán) là do Trời (hay thuộc hạ của Trời) gây ra, còn ở chuyện ông Kinh thì việc dân khốn đốn chủyếu là do giặc Pháp xâm lược tạo nên.

Truyện trò Siêu, o Hiên là một truyện thơ ra đời khoảng thời gian giáp ranh giữa thế kỉ XIX và thế kỉ XX, xuất phát từ một truyện cổ tích thế sự. Truyện kể rằng, ở làng Phù Bài (thuộc tổng Lương Văn, huyện Hương Thuỷ, phủ Thừa Thiên “), có anh học trò nghèo, mồ côi cha, tên là Siêu, phải lòng một cô gái con nhà giàu trong làng. Cô gái ấy tên Hiên, vốn nhan sắc, nết hạnh hơn người. O Hiên không những yêu Siêu mà còn tìm cách giúp đỡ chàng học hành, hòng có ngày đỗ đạt để vượt lên số phận. Họ thề nguyền suốt đời gắn bó với nhau. Nhưng đường cử nghiệp thì long đong, mà chuyện gia thất, nhất là với o Hiên, khó bề lần lữa. Mẹ trò Siêu đến nhà ông Hiên, chính thức đặt vấn đề. Ông Hiên chẳng những chối từ mà còn sĩ và, lăng nhục mẹ của Siêu. Ông đến gọi Hoán, người lâu nay có ý ngấp nghé o Hiên, bằng lòng gả con gái cho cậu ta. Siêu uất ức, thất vọng, chàng tìm đến chỗ miếu mà hai người đã thề nguyền thắt cổ chết. O Hiên chạy tìm người yêu, thấy thế, cũng tự ải theo chàng.

Truyện lan truyền khá mạnh, ít ra cũng suốt dải đất từ đèo Hải Vân đến đèo Ngang. Nó được thêm thắt, thêu dệt cho thêm phần sinh động. Và từ văn xuôi chuyển sang văn vần: truyện thơ ra đời (2) Đây là một sáng tạo của nhân dân Thuận Hoá – Bình Trị Thiên.

Truyện trò Siêu, o Hiên theo thể thơ tự do, thỉnh thoảng, chen những đoạn lục bát; lời lẽ dung dị mà tự nhiên, sinh động. Thí dụ:

–  Đoạn mẹ trò Siêu bị khinh khi, lúc bà bưng trầu rượu đến nhà ông Hiên hỏi vợ cho con:

Mụ Siêu sang nhà ông Hiên,

Ông không chào hỏi, Nỏ bỏ chiều ngồi.

Bả ngồi xó ró,

Bó gối cối xay…

– Lời của ông Hiên, khi mẹ của Siêu ngỏ lời cưới o Hiên cho Siêu:

Đục lại tìm đục,

Trong lại tìm trong;

Có mô sắt lộn với đồng,

Thuyền rồng đem sánh với tròng, người chê.

Mụ bưng trấu rượu mụ về,

Con tôi không gả, chớ hề lại qua!

Truyện Thoại Hương, Quý Ngọc mới sưu tầm được một phần (phần đầu), kể Thoại Hương (12 tuổi) lấy Quý Ngọc (13 tuổi). Thoại Hương ở nhà với mẹ chồng, rất hiếu thuận, còn Quý Ngọc phải đi học xa. Một hôm, nàng nằm mơ thấy rồng đoanh và mang thai. Mẹ chồng nghi ngờ Thoại Hương ngoại tình, nhấn Quý Ngọc về, buộc con phải li dị vợ. Trên đường về nhà, Thoại Hương đi ngang qua một khu rừng thì gặp một con hổ bị mắc bẫy. Thoại Hương đồng ý tháo bầy cho hỗ với điều kiện hồ phải ăn thịt cô. Nhưng khi ra khỏi bẩy, hồ không chịu ăn thịt Thoại Hương mà đòi bà mẹ chồng không biết phải trải của nàng phải đền mạng. Thoại Hương đã van nài, xin đem thân mình thế mạng bà lão…

Hiện chưa sưu tầm được phần sau, nhưng từ đặc điểm của thể loại có thể cho biết phần kết thúc có hậu của nó. Chẳng hạn như: Quý Ngọc thành đạt (thi đỗ, ra làm quan), chàng tìm gặp lại Thoại Hương, người mẹ chồng nhận ra sự sai lầm của mình và trở nên yêu quý con dâu; gia đình giàu sang, hạnh phúc…

Văn chương Thoại Hương, Quý Ngọc so với hai truyện trước, không lưu loát, sinh động bằng. Ở đây, có nhiều đoạn lặp lại, nhiều hình ảnh ước lệ, công thức. Thí dụ:

–  Khi bị mẹ chồng kết tội ngoại tình, Thoại Hương đã thanh minh:

Mẹ ơi, xét lại cho minh,

Con không ăn ở bất bình chuyện chi.

Hôm qua, con thấy việc dị kì:

Thể rồng đoanh dạ, tứ chỉ bàng hoàng;

Trạnh khi con cứ thấy nghĩa chàng,

Trở về trò chuyện với nàng nguyệt ba.

Tờ li dị (“thơ để vợ”) do Quý Ngọc viết:

Thơ rằng: Trời thanh vặc vặc,

Nguyệt lặn, sao mờ;

Tưởng đem em về coi trong tổ đức,

Tưởng đem em về phụng dưỡng mẹ cha;

Không hay én bắc, thôi lại gần xa.

Chuyện này cũng tại bởi mẹ của ta

Làm cho nên nỗi bướm ba lìa ngành!

Truyện Mã Phụng, Xuân Hương có khả năng ra đời muộn hơn Truyện Thoại Hương, Quý Ngọc: khoảng giữa thế kỉ XIX. Truyện kể về ba thế hệ họ Mã cùng phò vua giúp nước. Mã Ô năm hai mươi tuổi đi lính cho làng. Ba năm sau, chàng lĩnh suất Đội, cưới một cô hàng rượu làm vợ. Vợ chồng ở với nhau được bốn tháng thì ông Đội phải đi Giang Đông đánh giặc. Mã Ô được phong Phó cơ, cưới nàng hầu, viết thư về cho phép vợ cải giá hay chờ đợi thì tuỷ. Bà Phó viết thư cho chồng, nguyện giữ lòng chung thuỷ.

Ông Phó được triệu về kinh để “lãnh quyền binh mã”, mang theo người vợ lẽ và hai đứa con nhỏ. Bà Phó và người vợ lẽ này chung sống rất hoà thuận. Ba năm sau, ông Phó được thăng chức Đô đốc. Ít lâu sau, mẹ vợ mất, ông Đô làm tang chu tất. Bà Đô thụ thai và sinh đôi hai trai: Mã Long và Mã Phụng. Cả hai đều hiếu đễ, thảo ngay, mười hai tuổi đã làu thông kinh sử.

Mã Phụng hàng ngày đi học ngay qua chợ, thấy Xuân Hương nết na, hiếu hạnh, mới ba tuổi đã dắt người cha mù loà đi ăn mày, đem lòng yêu dấu. Xuân Hương lên mười thì cha mất, ngày nàng xin ăn, đêm đến nằm giữ mồ cha. Một đêm, nàng được Tiên ông dạy cho các phép mầu, và báo cho biết sau này sẽ vinh hiển.

Vua mở khoa thi, Mã Long, Mã Phụng đứng đầu bảng. Mã Phụng nhường Trạng nguyên cho anh. Vua định gả Kim Nga, Ngọc Hoàn cho hai người. Mã Long cưới công chúa Kim Nga. Mã Phụng chối từ công chúa, chàng cưới Xuân Hương. Mã Phụng, Xuân Hương ở với nhau được ba năm thì có giặc Tây Phiên đến xâm lăng bờ cõi. Mã Phụng lĩnh chức Đổng nhung cầm quân đi đẹp giặc. Chàng giao chiến ba ngày liền không thắng được, chẳng may ngã ngựa bị tướng giặc là Hùng Sư bắt sống, nhốt vào cũi đồng.

Đô đốc Mã Ô lĩnh bình đi đánh giặc cứu con. Xuân Hương cũng xin cha cho đi cứu chồng. Đến nơi, Mã Ô thình lình bị đau bụng, không giao chiến được. Xuân Hương một mình cầm quân bắt sống Hùng Sư, phá cũi cứu chồng. Họ kéo quân thắng trận trở về. Vua truyền mở tiệc mừng, phong Xuân Hương làm Dưỡng từ công nương, cho nàng về xây lăng cha. Xuân Hương sinh được một trai, đặt tên Mã Điểu. Lên hai, Mã Điểu được Tiên ông đưa lên trời dạy phép, bảo đến khi chín tuổi thì cho xuống dương gian để trừ nịnh tặc, khuông phò ấu chúa.

Bảy năm sau, sử Phiên sang nộp cống và chuyển lời vua Phiên mời Á trạng Mã Phụng sang thăm. Mã Phụng được triều đình cử đi sứ Tây Phiên. Nước Phiên rất trọng đãi Á trạng Nam trào Mã Phụng. Công chúa Bạch Tuyết Vân xin được làm vợ lẽ, chúa Phiên ngỏ ý khi qua đời sẽ giao quyền trị nước cho chàng. Mã Phụng do được Xuân Hương báo cho biết trước, đã thoái thác, lấy cớ về xin ý kiến gia đình rồi mới quyết định.

Vua Nam băng hà. Lợi dụng hoàng tử còn nhỏ, gian thần Hồ Rô cướp ngôi, bắt hoàng hậu và hoàng từ bỏ ngục. Mã Long nhờ Mã Lân đi Động Thành báo với cha, Mã Quy đi Tây Phiên báo cho Mã Phụng biết tình hình. Hai người lên đường ngay. Quan Trủng tể Võ Công giả vờ theo giặc. Nửa đêm, ông lên đến nhà Mã Long nghe ngóng, giữa lúc Mã Long và Xuân Hương đang bản cách cứu hoàng hậu và hoàng tử. Ba người chích huyết thế nguyền, rồi cùng đột nhập ngục thất, đưa hoàng hậu và hoàng tử lên núi lánh nạn. Sáng hôm sau, Hồ Ngạnh kéo binh đuổi bắt. Xuân Hương hoá phép khiến trời đất tăm tối, đưa được mọi người an toàn vào núi. Theo kế của Võ Công, bọn chúng cho là “giặc đàn bà” đã trốn, không đáng ngại, kéo quân trở về.

Đô đốc Mã Ô được Mã Lân báo tin, kéo quân về kinh đô. Mã Điểu đang học phép tiên, biết được biến cố ở triều đình, xin Tiên ông cho trở về “trả nợ nước nhà”, gặp ông nội giữa đường. Mã Phụng được Mã Quy cấp báo, xin Phiên chúa quay về, Đốc tướng Tây Phiên là Hùng Sư xin đi theo phò trợ, để trả nghĩa được tha mạng ngày trước. Hai người gặp đoàn quân của Mã Ô. Cha con Mã Phụng và Mã Điều gặp nhau. Tất cả cùng kéo về kinh, với ngọn cờ phục quốc.

Hồ Ngạnh bị bại dưới tay Mã Điểu. Mấy anh em họ Hồ nhảy trốn xuống sông. Mã Điểu nhờ Hà Bá và các tướng giang biên làm cạn nước sông, bắt sống cả bọn.

Sau đó, Đô đốc Mã Ô cùng các tướng kéo quân lên rừng đón hoàng hậu và hoàng tử trở về. Gia đình họ Mã được đoàn tụ. Hoàng hậu và hoàng tử về kinh đô, mọi người hớn hở vui mừng. Hoàng từ lên ngôi vua, sắc phong chức tước và ban thưởng cho những người có công. Mã Điều giữ chức Phò long giá ở ngay đến rồng. Theo lời tâu xin của Mã Điều, vua xuống chiều tha sưu thuế cho dân, cấp tiền cho người già cả, trẻ con, người tàn tật, người nghèo khổ. Bốn phương an lạc, chúc tụng vua “vạn thọ vô cương đời đời”.

Tư tưởng chủ đạo của Truyện Mã Phụng, Xuân Hương là đề cao đạo nghĩa. Có đạo nghĩa thì có tất cả, không đạo nghĩa thì sẽ bị diệt vong. Ở phạm vi gia đình, đạo nghĩa là lòng hiếu thảo với cha mẹ, nhường nhịn với anh chị em, tận tuỵ với thầy chủ,…; ở phạm vi đất nước, đạo nghĩa là sự trung chính, một lòng một dạ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ ngôi vua ( tượng trưng cho uy quyền quốc gia). Xuân Hương bộc (hàng Tam công), lại phải một kẻ ăn mày, nhờ có đạo nghĩa mà được bằng vai với một công chùa, đời đời vinh hiến; Hồ Rô, một Thái sư vì phản thần phi đạo mà bị chém phân thây, cơ đồ tan nát ,  phải chịu tiếng xấu suốt đời.

Lời lẽ truyện thơ này chất phác, hay lặp. Cốt truyện được hình thành theo

Tuyến thời gian, việc trước kể trước việc sau kể sau, chỉ tiết không nhiều, nhưng thường được khắc sâu. Dưới đây, là vài trích đoạn;

– Lời quan Phó Mã Ô nói với vợ về việc phụng dưỡng mẹ vợ:

Phân cùng bà mày một lời:

Mẹ già ngồi lại một nơi chưng là.

Mẹ là viên ngọc của ta,

Xin đừng bỉ báng mẹ giả không nên.

Vái cùng thượng giới, hoàng thiên,

Cho mẹ sống đặng đôi niên mình nhờ.

Đền ơn cúc dục sinh thành,

Yên trong lòng mẹ mới đành dạ con.

Tôi nhờ âm đức tổ tôn,

Làm quan lãnh đặng ấn son bệ rồng.

Tôi đi võng đó đòn cong,

Nghĩa mẹ chưa trả, trong lòng còn lo.

Vui thời như đứa giả đò,

Năm canh ruột thắt gan khô từng ngằn.

–  Lời á trạng Mã Phụng về việc cưới hạng “lá ngọc cành vàng” về làm dâu:

Hay chỉ thuốc điều trầu phong,

Dâu con chẳng rước, rước ông rước bà.

Chân giày, chân dép vào ra,

Kêu dâu cũng lỡ, kêu bà khó kêu!

Đỏng đảnh như tỉnh đầu đèo,

Dầu thơm, thuốc xỉa, lại điều soi gương.

Chẳng biết kính trọng gia đường,

Ra vào dù võng, chẳng nhường mẹ cha.

Nháo nha nháo nhác như hoa,

Chưa mưa đã lạnh, nắng mà kêu van.

Thảo chỉ mà mèo ăn than,

Rước voi đạp ngựa, thế gian chê cười”.

–  Cảnh Mã Điểu và Hồ Ngạnh giao đấu:

Mã Điều cỡi ngựa xích mao,

Cùng với Hồ Ngạnh huy đao thi tà’,

Côn quyền thương thủ quyển khai,

Hiệp này ai chẳng thua ai hiệp nào.

Ngạnh rằng: “Thằng bé tải cao!”;

Hoá ra lửa đốt, hoả hào tứ tung.

Mã Điểu đứng giữa thanh không.

Bèn mới chiếu kính, lửa hồng biến tan.

Ngạnh rằng: “Thằng bé tài ngoan!”;

Thả ra lưới sắt, phù ngang trên đầu.

Mã Điểu bèn hoá phép mầu,

Tay cầm liễu diệp, bèn thâu lưới rày.

Ngạnh rằng: “Thằng bé tài hay!”;

Tam hồn thất phách chân tay rụng rời.

Răng nay đã hết phép rồi,

Ngựa hồng xếp vó, giáo rơi phương nào!

  1. Có một sự gần gũi cơ bản giữa vẻ và truyện thơ: chúng đều là những sáng tác tự sự bằng văn vần. Dân gian thường gọi một số truyện thơ là vè: Truyện Mã Phụng, Xuân Hương cũng được gọi là “Vè Mã Phụng, Xuân Hương” (hay “Vè mụ Đội”, “Vè Mã Phụng, Mã Long”, “Vè ông xã trơi đời”,…), Truyện Thoại Hương, Quý Ngọc cũng được gọi là “Vè Thoại Hương, Quý Ngọc”….

Theo đặc điểm thể loại (của vè và truyện thơ) đã trình bày, thì việc xếp Truyện Mã Phụng, Xuân Hương vào truyện thơ và dùng tên đang gọi là hợp lẽ. Truyện Thoại Hương, Quý Ngọc cũng không phải bàn cãi. Nhưng với Truyện du lịch thiên đàng và Truyện trò Siêu, o Hiên, thì cần phải lí giải.

Truyện du lịch thiên đàng không thể xếp vào vè, vì tính chất thời sự, báo chí khá mờ nhạt, trong lúc nó sử dụng khả năng hư cấu và yếu tố thần kì rất rõ. Mặt khác, đây là sáng tác của một nhân vật trạng dân gian. Các bài thơ, lời hò và những mẩu truyện hài của ông (cũng như của các nhân vật trạng khác), đều được các nhà nghiên cứu thống nhất xếp vào kho tàng văn học dân gian, thì với loại truyện thơ, sao lại không thể?

Truyện trò Siêu, o Hiên thường được gọi là “Vè trò Siêu, o Hiên”. Ở địa phương còn có Truyện trò Siêu, o Hiên dạng truyện cổ tích sinh hoạt và một số giai thoại hò hát lấy cốt truyện này làm đề tài. So truyện cổ tích, các giai thoại vừa nêu với bài vè, có mấy chi tiết khác biệt, như không phải họ gặp gỡ và yêu nhau một cách tình cờ mà hai người vốn thân quen, láng giềng của nhau, như chuyện xuýt chó đuổi cắn không phải lúc mẹ của Siêu bưng cau trầu đến nhà Hiên mà lúc đi xin lửa thổi cơm, như việc xét xử ông Hiên, trò Hoán,… Và tên làng Phủ Bài, nơi xảy ra câu chuyện, không còn được nhắc tới, tên miếu Thổ thần (có tài liệu nói miều Thành hoàng) được gọi chung chung là Linh Sơn. Tính chất hư cấu, phiếm chỉ đã xuất hiện. Chúng cho thấy mặt thông tin, thời sự trở nên lu mờ (như thiếu mất yếu tố thời gian, địa điểm xác thực), trong lúc các tình tiết được tăng cường nhằm khắc hoạ tính cách nhân vật, và cả những yếu tố li kì nhằm thu hút người nghe (1). Nghĩa là, nếu đặt lên đòn cân, thì phần truyện thơ có già hơn phía về. Ở Vê Thừa Thiên Huế, chúng tôi xếp nó vào “Vẻ truyện tích dân gian” cùng với “Vè Thoại Hương Quý Ngọc”. Ở đây, để chính xác hơn, chúng tôi xếp vào truyện thơ, với tên Truyện trò Siêu, o Hiên.

Vè mặt kết cấu bộ sách, chính mối quan hệ gần gũi giữa vè và truyện thơ vừa phân tích, đồng thời cũng biện minh cho việc xếp chúng trong cùng một tập: tập III, của bộ Tổng tập Văn học dân gian xứ Huế

PHẦN 1:

               VÈ

QUY CÁCH BIÊN SOẠN, TRÌNH BÀY

  1. Vấn đề sưu tầm, tập hợp vè

Các bài vè được chọn vào sách Tổng tập Văn học dân gian Thừa Thiên Huế – Tập III: Vè, truyện thơ ra đời từ 1975 trở về trước.

Tổng cộng số bài vè được chọn: 91 bài; trong đó:

+ Số mới công bố lần đầu: 21 bài (chiếm 23,3%). Đây là những bài vè được sưu tầm rải rác trong hơn hai mươi năm, từ 1984 đến 2006.

+ Số được chọn từ các tập sách, tạp chí có trước: 70 bài.

Trong số 70 bài này, có 61 bài chép từ các tập sách (xếp thứ tự theo số lượng các bài vè được tập hợp):

  1. Vè Thừa Thiên Huế (VTTH), Tôn Thất Bình (chủ biên), Trần Hoàng, Triều Nguyên; Hội Văn nghệ dân gian Thừa Thiên Huế xb, Huế, 2001.

Sách sưu tầm, biên soạn, dày 378 trang, khổ 14,5 x 20,5 cm. Sách gồm hai phần: phần nghiên cứu (ngoài bài phần sưu tầm, chia tác giả): giới thiệu chung, in ba bài nghiên cứu của ba tác giả); phần sưu tầm, chia ra: vè phản ánh sinh hoạt xã thôn, vè lịch sử, vè truyện tích dân gian.

  1. Văn học dân gian Bình Trị Thiên (VGBTT), Trần Văn Hối (chủ biên), Trần Hữu Duy, Trần Hoàng, Phan Ngọc Thu, Trần Đại Vinh; Trường Đại học Sư phạm Huế xb, Huế, 1987.

Sách sưu tầm, biên soạn; dày 204 trang, khổ 13 x 19 cm. Gồm 5 chương: “Ca đao”; “Đồng dao”; “Hò, lí, vè”, “Tục ngữ, câu đố”, và “Truyện kể dân gian”. Riêng “vè”, có 15 bài vè ngắn và một vài trích đoạn bài “Vè thất thủ kinh đô”.

  1. Văn học dân gian Hương Phú(VGHP), Triều Nguyên; Sở Văn hoá Thông tin Bình Trị Thiên xb, Huế 1987.

Sách sưu tầm, biên soạn; dây 204 trang, khổ 13 x 19 cm. Gồm hai phần: phần truyện kể dân gian và phần thơ ca dân gian. Riêng “vè”, có14 bài vè ngắn và một và một số trích đoạn của hai bài vè tương đối dài là “Vè dạy con” và “Vè mụ Quýt”.

  1. Vè chống Pháp: Thất thủ Kinh đô, Thất thủ Thuận An (1883-1885) (VCP), Lương An; Nxb Thuận Hoá, Huế, 1983.

Sách sưu tầm, biên soạn; dày 172 tr, khổ 13 bản hai bài 13 x 19 cm. Trước khi trình bày văn bản hai bài vè “Thất thủ Kinh đô” và “Thất “Thất thủ Thuận An”, sách có phần giới Thiệu bối cảnh lịch sử và giá trị nội dung, nghệ thuật của chúng. Phân bố của 61 bài vè ở 4 tập sách này (1): VTTH: 43; VGBTT: 10;,VGHP: 6; VCP:2, 9 bài vè còn lại: 1) 3 bài vè ngắn ở tiểu mục “Vè chống Mĩ: các phong trào”, chép từ sách Tổng kết công tác binh vận trong cuộc chống Mỹ cứu nước 1954-1975, Nhiều tác giả (Tỉnh uỷ Thừa Thiên Huế tổ chức bản thảo], Nxb Thuận Hoá, Huế, 1998; 2) 2 bài (“Vè tám mươi năm đô hộ, dân tình xân vân” và “Vẻ mừng độc lập, động viên phong trào bình dân học vụ”), chép từ Tạp chí Huế xưa và nay, số 27, năm 1998; và số 81, năm 2007; 3) 1 bài (“Vè Quảng Giang”), chép từ sách Địa chỉ văn hoá xã Quảng Thải, Huỳnh Đình Kết (chủ biên), Trần Đình Tối, Văn Đình Triền, Nxb Thuận Hoà, Huế, 2000; 4) 1 bài (“Vè năm Ất Dậu 1945”), chép từ Tập Nghiên cứu Văn hóa dân gian Thừa Thiên Huế, 12 – 2003; 5) 1 bài (“Vè tiếng mìn Đặng Lế”), chép từ Báo Thừa Thiên Huế, số 2231, ngày Thứ bảy, 26-01-2002; 6) 1 bài (“Vè bài tới”), chép từ Tạp chí Sông Hương, số 264, tháng 2, 2011.

  1. Vấn đề sắp xếp, hệ thống hoá các văn bản vè

Các văn bản (1) vè được sắp xếp, hệ thống hoả như đã nêu trong mục 1.1., bài “Khái lược về vè và truyện thơ xứ Huế”, ở trước. Hệ thống phân loại này chia vè làm hai loại lớn, là vè sinh hoạt và vè lịch sử (ghi bằng chữ số La Mã), mỗi loại lớn lại chia thành các tiểu loại (ghi bằng chữ số Ả Rập), mỗi tiểu loại có thể phân làm các tiểu loại nhỏ hơn (ghi bằng các chữ cái in hoa A, B, C,…), hay nhỏ hơn nữa (ghi bằng các chữ cái in thường a, b, c,…). Tức hệ hệ thống phân loại này có bốn bậc. Các bài vè, khi xếp vào đều được đánh số thứ tự, và chỉ nằm ở bậc thứ hai, thứ ba (như vậy, bậc thứ tư nếu có, thì chỉ có ý nghĩa tương đối). Như 27 bài vè chống Pháp (của tiểu mục II.2.4.), tuy được chia nhỏ hơn (thành: a) Vè về các tình huống, trận đánh; b) Vè về các phong trào; c) Vè về tình quân dân; d) Vè về thắng lợi, tổng kết cuộc chiến), nhưng lại được đánh số thứ tự liên tục.

  1. Vấn đề chú giải vè

Có hai hình thức chú giải: 1) Các tổ hợp được đánh dấu trong văn bản là từ ngữ địa phương, địa danh thuộc địa bàn Thừa Thiên Huế, và các điển tích, để chúng được chú giải ở các bảng liên quan đặt ở Phần tra cứu, nằm cuối bộ sách (tập VI); 2) Các chú giải ở cuối mỗi bài vè. Chú giải được thực hiện ngay ở cuối mỗi bài vè.

Hình thức chú giải đầu đã được nêu chi tiết ở “Quy cách biên soạn, trình bày [toàn tổng tập]” (ở tập 1 của bộ sách). Hình thức chú giải sau cụ thể gồm bồn lĩnh vực như dưới đây:

1) Trình bày bản khác (BK) nếu có: BK (nếu có) sẽ được ghi dưới bản chính được chọn, với cỡ chữ bé hơn.

2) Nguồn:

Chủ hai nội dung:

–  Xuất xứ: Ghi tên người sưu tầm, nơi và thời điểm sưu tầm, người cung cấp văn bản. Nếu bài vè đã được in thì ghi tên các tài liệu này. Và những thông tin liên quan đến xuất xứ khác (như bài vè được sưu tầm trọn vẹn hay mới chỉ một phần, được in tổng thể hay trích đoạn….)

–  Thời gian ra đời của bài vè: Có thể ghi cụ thể hay phòng chứng.

3) Tóm tắt:

Nếu là những bài vè dài, có thêm phần tóm tắt nội dung theo bố cục.

4) Chú thích:

Gồm các chủ giải về từ ngữ khó (không thuộc ba loại được đánh dấu để xem ở phần tra cứu), và về các nhân vật, sự kiện, vấn đề liên quan.

Do số lượng các BK và các bài vè dài chỉ có ít, nên thường gặp nhiều khi tiếp xúc với văn bản là hai hình thức chú giải nguồn và chú thích.

Người số hóa

Võ Thị Như Ngọc

Người hiệu đính

Nguyễn Thị Thảo Như