TỔNG TẬP VĂN HỌC DÂN GIAN XỨ HUẾ – VÈ, TRUYỆN THƠ (TẬP III)
VÈ CHÍNH SỰ MIỀN NAM 1954-1963
Ai ơi lẳng lặng mà nghe,
Tôi nói cái vè biến cố quốc gia.
Buộc lòng mà phải nói ra,
Một trang lịch sử để mà làm gương.
Mặc dầu kẻ ghét người thương,
Nôm na ghi lại làm gương cho đời.
Xin ai chớ bảo xu thời
Rằng chi khế rụng gặp hồi bò xiêu (1);
Xin ai cũng chớ mè nheo,
Rằng khi giậu ngã bìm leo, mà phiền.
Chín năm chấp chánh* cầm quyền,
Tưởng rằng diệt Cộng cho yên nước nhà.
Để mau thống nhất sơn hà,
Để mong sum họp một nhà Bắc Nam.
Nào ngờ một lũ gian tham,
Đã làm hại nước, lại làm hại dân.
Kiêu căng tự thánh, tự thần.
Ngày nay thì đã bày trần mặt ra.
Ai xui một lũ gian tà
Hè * nhau sinh trưởng vào nhà họ Ngô.
Lại thêm ác phụ dâm ô (2),
Làm cho dân chúng xương khô cốt tàn.
Đắng cay, điêu đứng, lầm than,
Bưng tai, ngậm miệng, căm gan, nuốt sầu!
Mặc dân cơ nghiệp khổ đau,
Tiền rừng, bạc biển tóm thâu một mình.
Làm nhiều thủ đoạn gian manh,
Nói ra ai cũng hồn kinh phách rời!
Chứa chồng tội ác ngất trời,
Giấy không đủ chép, mà lời khốn phô*.
Manh tâm chiếm đoạt cơ đồ,
Sửa sang điện ngọc, điểm tô ngai vàng.
Ra tay hút máu, nghiền xương,
Đồng bào thảm khổ không đường kêu ca.
Mượn danh chánh thể* cộng hoà,
Để ngầm sắp đặt truyền gia vương hầu.
Tính toan kế xảo, mưu sâu,
Bày trò dân ý trưng cầu phi vi.
Xanh bỏ giỏ, đỏ bỏ bì (3),
Bắt người bầu phiếu phải ghi thuộc lòng.
Tay ngoài léo lận tay trong,
Phỉnh phờ, bịp bợm, lộn sòng, trêu ngươi.
Hâm* ba, hâm sáu tháng mười,
Trước thời truất phế, sau thời hoan hô.
Tiếp theo quốc hội bày trò,
Bắt dân bầu cử một pho bù nhìn.
Một phường giảo hoạt, xỏ xiên,
Khom lưng, mòn gối dưới quyền phụ nhơn (4).
Bắt dân trơ trẽn ghi ơn,
Bắt dân lố bịch suy tôn thánh thần.
Khoe khoang ái quốc, ưu dân,
Rêu rao minh chánh, trung cần, thuần lương.
Danh từ đẹp đẽ phô trương,
Dễ bề bóc lột, dễ đường vét vơ.
Kìa là viện trợ sờ sờ,
Thằng dân nào có được nhờ chút chi.
Dầu ăn, bột bắp*, bột mì,
Thuốc men, quần áo, với thì sữa bơ.
Mót bòn chẳng chút trẽn trơ,
Thằng dân nghèo khó có sờ được đâu.
Nào là hồ cá, hồ rau,
Chuồng gà chuồng lợn, đồng trâu đồng bò.
Việc nhỏ cho chí việc to,
Vào túi không đáy, vào kho không tường!
Đấu thầu, khách sạn, nông trường,
Xi măng, vôi đá, xưởng đường, xưởng chai;
Bao nhiêu cơ cấu kinh tài,
Trưng ra nhãn hiệu, chiêu bài “vì dân”.
Vì dân lại cướp cơm dân,
Chẳng cần âm đức, chẳng cần lương tâm.
Dân lành ở miệt sơn lâm,
Đốt than kiếm củi chí lăm* trợ bần.
Nhưng nào có được yên thân,
Kiểm tra, cơm bới nhiều lần bị thâu.
Hết lời van vỉ yêu cầu,
Nhưng phường mã diện ngưu đầu (5) điềm nhiên.
Vì chưng đã có lệnh truyền,
Để phần tiêu thụ dành riêng than hầm.
Lời xưa đã nói chẳng lầm:
Lửa tham bừng cháy, lương tâm phải mờ!
Lòng tham nào có bến bờ,
Bòn cho đến nỗi rác dơ cũng bòn.
Xưa kia rác đổ sườn non,
Nay thì được lệnh rác dồn một nơi.
Chẳng chừa một mảy rắc rơi,
Cầm ngăn, canh gác, mây ai dám gần.
Thằng dân nào dám hé răng,
Thắt lưng, buộc bụng, nhịn ăn, cúi đầu.
Âm thầm khóc hận, cười đau,
Để quân gian ác vênh râu lộng quyền.
Đem của nước làm của riêng,
Sạch sành sanh vét của riêng nước nhà.
sống trong nhung lua xa hoa,
Mà còn bí mật chuyển ra nước ngoài.
Bài phong đả thực (6) inh tai,
Công khanh lại sống cuộc đời đế vương.
Ngoài thì cấm tứ đồ tường,
Trong thì hút sách, điếm đường (7) hơn ai.
Quân nha phòng vệ trong ngoài,
Còn phường nịnh bợ, ngày hai buổi hầu.
Đã dùng đại uý têm trầu,
Lại dùng trung sĩ theo câu móc mồi (8).
Mới hay dân chủ ngoài môi,
Mộng làm vương bá đã nuôi nhiều ngày,
Lại còn lên mặt quan thầy,
Đem điều ảo tưởng thày lay dạy đời.
Đánh ba thứ giặc cấp thời,
Chia rẽ, chậm tiến, ngoại lai, vô thần.
Tam túc, tam giác, tam nhân,
Hiệp thánh nhân vị, tinh thần cần lao.
Quốc gia cách mạng phong trào,
Phụ nữ liên đới, bảnh bao thay là!
Thanh niên nam nữ cộng hòa,
Võ trang dân chúng, bày ra lắm hình.
Công bằng, bác ái, duy linh,
Cộng đồng, đồng tiến, dân sinh, nhân quyền.
Phục hồi đạo lí cổ truyền,
Bảo vệ mĩ tục, giữ gìn thuần phong.
Nghe qua đẹp đẽ vô song,
Ngoài thời rỗng tuếch, mà trong ngâu vầy (9).
Ngấm ngầm kéo cánh kéo vây,
Đồng mưu cả tớ lẫn thầy hại dân.
Ma vương, ác quỷ, hung thần,
Vô cùng khủng khiếp, quá phần tinh ma!
Để lo tậu ruộng cất nhà,
Chiếm cơ đoạt nghiệp, ai mà dám đương (10).
Xây hầm, chứa súng, lập vườn,
Nuôi chim, nuôi cá, mở đường, xây lăng,
Nào là nuôi sấu, nuôi trăn,
Hươu nai, hổ báo, chó săn, chim mồi.
Sừng tây, ngoạn mọc, đồi mồi,
Cây hoa, non bộ, thức chơi tràn trề.
Hoặc mua rẻ, hoặc cướp về,
Ỷ quyền, tự thị gớm ghê động trời.
Muốn cho kín tiếng, nhẹm hơi,
Ra tay khủng bố cho đời miệng câm.
Sửa sang, xây đắp chín hầm,
Đoạ đầy Phật tử, giam cầm lương dân.
Mỗi người giam giữ mỗi năm,
Trên đầu nước rỉ, dưới chân bùn lầy.
Thương thay đứng suốt đêm ngày,
Ăn đó, ỉa đó, nực đầy thối hôi.
Thảm thay chẳng được nằm ngồi,
Đói cơm khát nước lần hồi héo khô!
Nào là toan tính mưu mô,
Tiềm tâm tiêu diệt tín đồ Phật gia.
Mồm thì “tột bậc giải hoà”,
Ngấm ngầm kế độc nghe mà rợn ghê:
Phân làm hạng A B C,
Để đem bỏ bị, cho về biển khơi.
Nào là cách thủ tiêu người,
Đem đi biệt xứ, hết ai dò tường.
Sinh viên, trí thức, tráng cường,
Thủ tiêu cách ấy, hết đường mối manh.
Quyết tâm hãm hại dân lành,
Hại hàng đối lập, tinh anh nước nhà.
Giả vờ Côn Đảo đày qua,
Máy bay cho lén theo mà thả bom!
Thà rằng tội đáng cho cam,
Trưởng tàu vô tội cũng ôm hận đời.
Hoặc xây hầm kín nhốt người,
Đêm ngày chẳng thấy mặt trời, mặt trăng.
Cố giam cho chết mòn lần,
Cầm hơi vài chút thức ăn gọi là.
Lại cho lắm cách tấn tra,
Nói lên rợn tóc, nghe qua não lòng:
Cho uống no nước xà phòng,
Rồi lên trên bụng trên hông mà ngồi.
Cho điện mạnh chiếu vào người,
Hoặc đem tra điện, bồi hồi thần kinh.
Hoặc là xương sống đóng đinh,
Tay chân lột móng, cực hình thương ôi!
Chao ôi, nghe luống rụng rời,
Đông tây kim cổ, có nơi nào tày!
Bạo tàn man rợ quá tay,
Thật là địa ngục ở ngay cõi trần.
Thế mà một lũ chó săn,
Cam làm đầy tớ để ăn đồ thừa.
Cúi luồn, nịnh bợ, a dua,
Mặc dân đồ khổ, cay chua, khốn cùng!
Những tên đồng lõa, a tùng,
Một phường tàn ngược, gian hùng đồng tình.
Một đoàn thú tánh* nhân hình,
Coi thường thế giới, dám khinh Giáo hoàng.
Vô cùng bạo ngược dã man,
Ngọa Triều cũng kém, Thuỷ Hoàng (11) cũng thua.
Thẳng tay chẳng chút nào chừa,
Thế mà ác phụ (12) mồm khua anh hùng.
Dám làm một việc điên khùng:
Đĩ càn giả dạng anh hùng Trưng Vương
Đem xây tượng giữa công trường,
Muôn người căm phẫn, xem thường chông gai.
Lại còn mưu việc hàng hai,
“Bắt tay V.C.”, toan bài mị dân.
Toàn dân phẫn uất vô ngần,
Nước sôi lửa đỏ, muôn phần oán than!
Nhưng nào ai dám kêu oan,
Vì chưng mật vụ, công an bủa dày.
Lan tràn các lũ chồn cây,
Rình mò điểm chỉ, đặt bày, phao ngoa.
Toàn dân có mắt như loà,
Có tai như điếc, miệng mà như câm.
Tay chân như bại, như cùm,
Chín năm cam chịu: bại; câm, điếc, loà.
Kìa như “chiến sĩ cộng hoà”,
Đem thân hồ thỉ xông pha chiến trường.
Thành tâm bảo vệ biên cương,
Khuông phò Tổ quốc khỏi đường khuynh nguy.
Nằm gai nếm mật quản gì,
Đạn bom bao bọc, gian nguy rập rình.
Tưởng rằng vì nước quên mình,
Hay đâu bảo vệ gia đình họ Ngô !
Ngày nay biết rõ mưu mô,
Càng căm giận lũ cuồng nô báo đời.
Than ôi, tội ác tày trời,
Muôn năm mạt kiếp, ngàn đời ô danh!
Bạo tàn hại mạng, sát sanh,
Dân đen cũng oán, trời xanh cũng hờn!
Tội tình của bọn ác ôn,
Bá đao, lôi đã, cũng còn nhẹ cân.
Những phường bạc ác bất nhân,
Đáo đầu ắt phải đem thân đền bù.
Biển kia mà tát còn khô,
Kể về tội ác họ Ngô không cùng!
Than ôi gác tía, lầu hồng,
Trăng nằm dưới nước, hoa lồng trong gương.
Mộng làm hoàng hậu, quốc vương,
Ngọn đèn trước gió, giọt sương cuối cành!
Góp gom xương máu dân lành,
Đắp xây quyền vị nay thành số không.
Đạo trời thật đã chí công,
Bao nhiêu tội ác chất chồng lâu nay.
Giấu che bưng bít bấy chầy,
Nay đã rõ mặt “một bày mèo ngoao”!
Xanh kia thăm thẳm tầng cao,
Nhân gì quả nấy, trốn nào được vay ?
Nhãn tiền báo ứng ghê thay,
Cơ đồ sụp đổ một giây chẳng còn!
Trăm năm bia đá thì mòn,
Ngàn năm bia miệng hãy còn đồn vang.
Bây giờ cơ nghiệp tan hoang,
Mẹ già ngắc ngoải khóc than luy đầm.
Mưu thâm thì họạ diệc (13) thâm,
Cái gương nhân quả có lầm mày đâu?
Kiến bò miệng chén bao lâu,
Ác sâu thì hoạ cũng sâu cho vừa.
Ai ơi, đã sáng mắt chưa?
Lưới trời lồng lộng tuy thưa mà dày.
May thay, vận nước còn may,
Toàn dân quật khởi, đến ngày vùng lên.
Thợ thuyền, thương mại, thanh niên,
Học sinh, trí thức đều liền bắt tay.
Chẳng phân tôn giáo nọ nầy,
Gái trai già trẻ siết tay liên hòa (14).
Các nhà danh tướng tài ba,
Kịp thời hành động hợp mà lòng dân.
Đồng tâm nguy hiểm sá cần,
Ra tay diệt lũ hung thần Ngô gia.
Mùng một tháng mười một sáu ba,
Một ngày lịch sử thật là quang huy!
Chín năm tủi hận sầu bi,
Đều nhờ ngày ấy liền thì tiêu tan.
Tỉnh cơn ác mộng bàng hoàng,
Bừng nghe đả đảo hô vang lừng trời.
Người người hớn hở vui cười,
Rằng nay thì đã đi đời họ Ngô !…
Nguồn:
VTTH, tr 330-341, dưới nhan đề “Vè biến cố 1954-1963”. Thường biến cố chỉ một hay một số sự việc có tác động lớn đến đời sống, xảy ra trong một khoảng thời gian nhất định;ở đây,là một quá trình lịch sử 10 năm, dưới chế độ Ngô Đình Diệm, nên chúng tôi sửa lại “Vè chính sự miền Nam 1954-1963” để phù hợp hơn.
Bài vè gồm 266 dòng thơ lục bát, ra đời vào khoảng 1963-1964 (sau ngày 1-11-1963, thời điểm cáo chung của anh em Ngô Đình Diệm).
Theo Tôn Thất Bình (ở bài viết “Đặc điểm của văn hóa dân gian xứ Huế qua 690 năm lịch sử”,in trong: Nhiều tác giả ( Hội Khoa học lịch sử Thừa Thiên Huế), Cố đô Huế xưa và nay, Nxb Thuận Hóa, Huế, 2005, tr 542-549), thì Quỳ Ưu Nguyễn Đôn Dư có sưu tầm bài “ Vè biến cố 1954-1963, dưới chế độ tham, trá, bạo” gồm 287 dòng thơ. Chúng tôi chưa rõ bản được chép ở đây với bản của Quỳ Ưu ngoài số lượng dòng thơ, còn có những khác biệt gì.
Chú thích:
(1) Lấy ý từ câu tục ngữ địa phương “Bò bổ nhằm khi khế rụng”.
(2) Chỉ Trần Thị Lệ Xuân, vợ Ngô Đình Nhu.
(3) Một trò bịp trong cuộc trưng cầu dân ý năm 1954: người dân được rỉ tai trước câu “xanh bỏ giỏ, đỏ bỏ bì” (tờ phiếu màu xanh bỏ giỏ – tức vứt, tờ phiếu màu đỏ bỏ bì – tức chọn), và cứ thế mà làm. Phiếu đỏ là phiếu ủng hộ Ngô Đình Diệm.
(4) Phụ nhơn: chỉ Trần Thị Lệ Xuân.
(5) Mã diện ngưu đầu: đầu trâu mặt ngựa, hầm ý gian ác, hung tợn.
(6) Bài phong đả thực: trừ bỏ chế độ phong kiến, thực dân (khẩu hiệu của chính quyền Ngô Đình Diệm giai đoạn đầu).
(7) Tứ đổ tường: bồn điều ham mê làm bại hoại sản nghiệp: uống rượu, ham gái, đánh bạc, hút thuốc phiện. Điếm đường: điểm đàng, chuyện mãi dâm, cờ bạc, có tính chất lường đảo nói chung.
(8) Ngô Đình Cần (ở Huế), lấy một viên đại uý và một viên trung sĩ đi theo hầu hạ.
(9) Ý nói, cả hình thức lẫn thực chất đều không ra gì.
(10) Đương: đương đầu, chống cự lại.
(11) Ngọa Triều: tức Lê Long Đĩnh (tục gọi là Lê Ngoạ Triều), ở ngôi vua 4 năm (1005-1009), là một ông vua hoang dâm vô độ và tàn bạo nhất trong lịch sử nước ta. Thủy Hoàng: Tần Thủy Hoàng, vị hoàng đế đã thống nhất Trung Hoa vào năm 221 trước CN, dân gian xem ông là bạo chúa.
(12) Ác phụ: chỉ Trần Thị Lệ Xuân.
(13) Diệc: cũng, cũng theo.
(14) Liên hòa: liên kết, hòa hợp với nhau thành một tập thể thống nhất.
Người số hóa
Tôn Nữ Thái Bảo Trân
Người hiệu đính
Nguyễn Thị Thảo Như
