TỔNG TẬP VĂN HỌC DÂN GIAN XỨ HUẾ – VÈ, TRUYỆN THƠ (TẬP III)

1 tháng trước

VÈ THUẾ THÂN

Ai ai lẳng lặng mà nghe,

Tôi đặt cái vè hai chữ “thuế thân”

Ngẫm trong nhà nước phân vân,

Đến năm Mậu Tuất (“) đã gần nộp tô.

Bao nhiêu thiên hạ ở mô*,

Tai nghe đánh thuế kinh đô Nam triều.

Đức Từ Dũ nghe tiếng dân kêu,

Thế gian nhiều kẻ khó nghèo rêu rao (2)

Đình thần phải nghĩ làm sao?

Từ Thừa Thiên đến các tỉnh, nơi đâu chắng từ.

Chẳng qua Nam Việt mình hư,

Tây qua đánh thuế nay chừ cân phân.

Phán rằng văn võ đình thần,

Phải qua thương sứ (3) cho dân nó nhờ.

Cho dân đỡ khổ sanh cơ,

Nói cho dân nhờ Đại Pháp có dung tha.

Tâu lên hoàng thượng: “Đức Bà

Phen này phải đáo sứ tòa hội thương”.

Truyền bày võng, giá, kim thương,

Đức Bà qua nghị hội thương sứ toà.

Thuyền rồng phấp phới chèo qua,

Lẫy lừng binh mã bôn ba qua lầu.

Nghị (4) với Đại Pháp đã lâu,

Nay tôi đến lầu bàn chuyện mà chơi.

Các quan đại Pháp lên mời,

Bông sua (5) tay nắm, miệng cười a ha:

“Mấy khi lệnh thánh đáo tòa,

Chào đức Từ Dũ vậy mà qua chơi!

Khi không nói chuyện vui cười,

Thuế lệ nhà nước vậy thời làm sao?

Công tư điền thổ thấp cao?

Nội dân chánh tráng nộp mấy hào, mấy nguyên?”.

Đức Bà nghe hỏi, nói liền:

“Thổ điền, thâu thuế đồng niên (6) một lần.

Nước Nam thường bị thuế thân,

Mỗi năm tám tiền nó chạy không ra.

Đứa thời bán cửa, bán nhà,

Thằng vô gia sản vậy mà không dung.

Bao nhiêu đất ruộng ngoài đồng,

Đên mùa lúa gạo dự phòng nạp kho.

Dân tình đã khó, phải cho gạo tiền.

Tỉnh nam, tỉnh bắc, Thừa Thiên,

Cấp cho gạo tiền, bảo hộ phương dân.

Nay quyền Đại Pháp-cầm cân,

Xin cân nhè nhẹ cho dân nó nhờ !

Xem trong sổ bộ tàng thơ,

Công điền công thổ, nó nhờ thấp cao.

Tây qua bảo hộ Nam-trào,

Công điên công thố, bao nhiêu tỏ tường.

Dù ai ở lính việc quan,

Tên dân chánh tráng, rõ ràng tên dân.

Chư nhà binh thánh đình thần,

Cũng đều thống thiết, phân vây đêm ngày.

Coi trong bài chỉ * bằng nay,

Thuế thân Tây đánh, tính rày làm sao?

Dĩ từ bổ thượng thấp cao,

Thâu đến chánh tráng hai hào hai nguyên.

Cho đến thuế thổ thuế điền,

Thuê muối, thuế chợ, đánh liên thuế đò.

Hãy còn tạp thuế nhỏ to,

Thuế chi cũng đánh, chẳng cho chút nào.

Ba quân thiên hạ lao xao,

Xin đặng ít nhiều trong dạ mới yên.

Mở lời kêu hỡi Hoàng Thiên,

Có mô mà nạp thường niên, thường lề !”.

Đức Bà nước mắt dầm dề,

Dân tình đồ khổ, làm thuê ra gì.

Chẳng qua Nam Việt mình suy,

Mất mùa đại hạn, lấy gì mà thu?

Cực thời nó cũng đã lâu,

Đứa thời bán ruộng, đứa dắt trâu đi cầm.

Kẻ thời buôn bán kêu thâm,

Dắt con đi cầm ở tớ người ta!

“Nói cùng Đại Pháp chư nha,

Tôi xin Đại Pháp vậy mà thuế thân!

Nước Nam nhiều đứa cơ bần,

Đói no nhờ chợ, dưỡng thân tháng ngày.

Bây giờ Đại Pháp sang đây,

Bảo hộ Nam Việt ngày này phải suy (7):

Sá chi những việc tế vi (8),

Thuế đò, thuế chợ vậy thì xin tha.

Nước Nam hay kị * ông bà,

Năm trâu bảy lợn phải tra muối vào (9)

Đại Pháp phải lượng làm sao?

Bảo hộ Nam trào phải nghĩ bụng ta”.

Nghe lời đức Từ Dũ phán ra,

Đại Pháp đã định dung tha ít nhiều:

“Chúng tôi qua bảo hộ Nam triều.

Cầu sắt, đường đá cũng nhiều người ưng.

Tâu bà nghĩ lại cho cân,

Công việc ăn mần*, Tây cũng phân minh.

Bà nghe cho tỏ sự tình,

Bà dạy Tây niết * , dân tình kêu ca.

Đường đi cỏ mọc hằng hà,

Tây qua bảo hộ thôi đà thêm xinh,

Tây không bảo hộ kinh thành,

Làm chi mà có thông hành hỏa xa ?

Bạc tiền vô số, quá đa,

Tây không niết sử *, để mà Tây ăn.

Bà đừng năn nỉ, nỉ năn,

Hãy còn quan võ, quan văn trong nước nhà.

Nên chi phải đánh thuế ra,

Thuế đò, thuế chợ vậy mà thuế thân.

Thương dân cực khổ, cơ bần,

Trước sau Tây cũng cho dân ít nhiều.

Bà nghe tôi nói mấy điều,

Thế mô cũng đặng ít nhiều mới ưng”

“Xin ngài nghĩ lại cho dân.

Kẻo dân đồ khổ, làm ăn ra gì.

Lên non, xuổng biền cũng đi,

Đào sông phá núi, vậy thì cũng dân.

Nghĩ ra cũng cực trăm phần,

An sương năm tuyết, tấm thân tồi tàn.

Phần thời hàng huyện, vua quan,

Vợ con đói rách mà làng không tha.

Đứa thời lo nỗi mẹ cha,

Tám mươi ngồi đó, biết mà cậy ai.

Tưởng sinh một chút con trai,

Để khi đầu gối quá tai (10) mà nhờ.

Tưởng nôi nhỏ dại bé thơ,

Để lớn mà nhờ, lại chịu chữ thuế thân!

Xin Tây hãy nghĩ cho dân,

Cũng như thương lão tuổi gần chín mươi.

Sống thêm chẳng đặng mấy đời,

Đại Pháp phải nghĩ mấy lời tôi phân,

Xin ra cũng đã nhiều lần,

Đại Pháp phải nghĩ cho dân với cùng.

Kẻo một mai tôi bóng xế về đông (11)

Phương dân lao lí, khổ trong đoạn tình.

Tôi chừ sống có một mình,

Dù tôi nhắm con mắt lại dân tình phân vân”.

Tây nghe lời đức Từ Dũ phán rằng:

“Tây tuân lệnh thánh, phân trần một khi,

Nói ra cũng phải vậy thì,

Nội triều ít kẻ rộng suy như lòng bà.

Con dân là ruột là rà,

Đi xin thuế lệ vậy mà cho dân.

Bà xin thiệt đã nhiều lần,

Thể nào Tây cũng nhân phân (12) ít nhiều.

Nước Nam ái ố, mĩ miều,

Bạc tiền dư triệu, tiêu thiều vui chơi (13)

Tuân nghe đức Từ Dũ cho trọn đời,

Cho dân một số: nạp thời đồng hai”.

Bà nghe chuyện đã êm tai,

Chẳng xin thì cũng cực ngoài phương dân:

“Thưa cùng văn võ đình thần,

Tôi về trường phụng an thân chưng là.

Với cùng Đại Pháp chư nha,

Lui về lầu các, chương tòà an thân”.

II

Hồi triều khi ấy phân trần:

“Ta qua hội nghị thuế thân bên lầu,

Phương dân cực khổ đã lâu,

Ta qua bên lầu bàn chuyện mới an.

Thương thay những đứa không làng,

Gia cư kí ngụ (4) tìm đàng lánh xa.

Mồ côi thương kẻ không cha,

Nên chi phải đáo sứ tòa phân phô*.

Già chưa biết chết khi mô,

Nên chi tôi phải phân phô hết lời.

Phân cùng văn võ đình thần,

Tôi nhắm mắt lại, thương dân với cùng.

Làm quan phải nghĩ thuỷ chung, .

Xin đừng niết sử đứa bần cùng nhơn*.

Có phước để lại thành vàng,

Vô phước vàng lại thành than mấy hồi!

Làm nhân có kẻ ân bồi,

Hoàng thiên ngó lại mấy hồi nên công.

Ăn no mặc ấm thung dung,

Thương dân với cùng, nhiều đứa mô côi.

Nay tôi đã mãn số rồi,

Hay là vận khí đổi dời âm dương.

Đông tây nam bắc bốn phương,

Hiệu trời ra bảng đêm trường khôn tinh.

Nói ra không phải với triều đình,

Tứ chi, cốt tiết trong mình suy vi”

Truyền đòi chánh ngự đông y,

Hội đồng xem mạch thử thì làm sao?

Thăm trong sáu bộ thế nào?

Đương khi hạ vụ thấp cao mạch già.

“Tâu cùng Thánh mẫu chương toà,

Xem trong mạch bà, nhất thiết thậm suy.

Sâm, nhung, truật, thảo, hoàng kì,

Dầu thang tứ khí đặng thì dưỡng hơi”.

“Thưa cùng văn võ một lời,

Tôi nay gần đất xa trời mười phân (15).

Nay mà ra khỏi cùng chăng,

Dầu tôi qua không khỏi, nhờ ân đình thần.

Tiên hoàng trối lại ân cần,

Thủy chung trọn vẹn đình thần chớ quên!”.

Ái Ban, Ái Lĩnh nội đền,

Đều thời xích lại một bên lưng bà.

Nghiêng tai hỏi nhỏ, thưa qua:

“Chừ trong bụng bà, bà muốn thời” chi?”

“Hỏi thầy chánh ngự lượng y,

Bụng tôi ưng uống một li yến sào.

Mơ màng tưởng tượng chiêm bao,

Thấy đức Thiệu Trị cờ sao trên đầu.

Phương phi mặt đỏ, dài râu,

Ngồi ngang trên đầu như thử” tiên ông.

Mộng xong nhớ tưởng trong lòng,

Mở hai con mắt, thời không thấy ngài!

Phương phi mặt đỏ, râu dài,

Tôi tưởng như ngài thuở trước, ngày xưa”.

Canh ba âm khí còn xa,

Đồng hồ năm khắc đã qua giờ dần.

“Tây làm chính lệnh, cân phân*,

Ai có công vụ cứ lần mà khai.

Ví dầu ông Đội, ông Cai,

Mấy anh ngũ trưởng (16) phải khai sắc bằng.

Ông Tây không nói làm xằng,

Ai có sắc bằng đến chôn công ban.

Sáu mươi thuế lệ đã an,

Bảy mượi sưu ích, thuế quan đã trừ.

Thuế lệ nhà nước đã trừ,

Về làng giữ miếu làm từ thắp hương”.

Đức bà phán bảo tỏ tường,

Phút đâu trời tối tợ dường mây mưa.

Đông tây nam bắc bốn phương.

Hiệu trời ra bảng kỉ cương lạ lùng.

Nổi ba tiếng súng đùng đùng,

Ba quân thiên hạ ai cùng đều kinh.

Ba cung sáu viện với triều đình,

Tai nghe tiếng súng rùng mình ngại nghi.

Tâu cùng hoàng thượng tức thì:

“Cớ sao phát lệnh việc chỉ chẳng tường?”

Hoàng thượng truyền khắp bốn phương,

Phán cùng hoả pháo, xa thương hỏi liền.

Ai ngờ hiệu lệnh hoàng thiên,

Nổi ba tiếng lệnh tự nhiên đùng đùng.

Đức Từ Dũ khi ấy hồi cung (17).

Bá quan văn võ ai cùng lệ sa,

Miệng kêu ba tiếng: “Hỡi bà,

Cớ sao bỏ phủ, bỏ tòa mà đi?”.

Hoàng thượng nước mắt lâm li:

“Bà ơi, bà hỡi, bà đi sao đành?

Cháu thời xung ấu một mình,

Bà về cung điện sao đành, bà ơi!”

Truyền đòi phùng tượng (18) tức thời.

Sô, sa, gấm, nhiễu, lãnh*thời cắt đi,

May đồ mạng phụ tức thì,

Đồ mà kí thác một khi cho bà.

Lại đòi khâm giáo chương toà,

Coi ngày thành phục vậy mà trị tang.

Hội triều văn võ bách quan,

Cũng đều làm lễ trị tang chưng là.

Lệnh truyền lục bộ chư nha.

Tam cung lục viện trong tòa đều hay.

Bảng tiêu các cửa băng nay,

Bao nhiêu điều đỏ cấm rày tam niên (19).

Mặc toàn đen trắng thường xuyên,

Đỏ, điều phi pháp bắt liền không tha.

Ai mà có ý tư tà,

Không kiêng pháp luật, bắt mà giải quan.

Vua truyền thầy địa khai sơn,

Coi ngay tống táng cho an bà rày.

Lệnh truyền thị nữ chân tay,

Cùng quan với lính bằng nay chưng là.

Thái giám vâng lệnh truyền ra,

Cùng quan với lính vậy mà một khi.

Coi ngày hăm sáu đưa đi,

Hăm hai luyện tập, vậy thì điểm binh

Lựa cùng ngàn lính cho xinh,

Đi ra tiền đạo, lộ trình cho minh.

Đi cho nghiêm chỉnh, trung bình,

Miệng thời có thẻ, trong mình có roi.

Chú nào chú nấy hẳn hoi,

Từ từ mà tiến, đi coi cho đều.

Đừng cho chén nước đặt chao,

Các quan nội trào mới gọi rằng danh.

Đường đi những suối với gành,

Khó nhọc cũng đành, chớ nại công lao.

Trung bình chẳng thấp chẳng cao,

Xích qua xích lại, coi sao cho tường.

Đòi thêm mây đội hạ ban,

Ba ngày tề tựu cho quan điểm rày.

Thường đòi một đội lính Tây,

Năm mươi lính tập, bằng nay hầu bà.

Quan một cho đến quan ba,

Tai nghe kèn thổi đứng ra hai hàng.

Quân nha khí giới nghiêm trang?

Lây lừng binh mã, các quan chực hầu.

Xem trong biển Thánh có câu:

“Bắt ki bắt cầu, hạ dụng bất tang” (20).

Việc bà một đời một lần,

Gắng công ra sức, chuyên cần phân minh.

Bách quan văn võ triều đình,

Cũng đều bái tạ tính tình mới an.

Đưa bà cho đến Nam Sơn,

Tạ từ quỳ lạy lui chơn kinh thành…21)

III

“Chừ thâu thuế lệ bôn phương,

Lấy tiền nuôi bệnh nhà thương tháng ngày.

Người buôn kẻ bán đâu đây,

Dưới đò, trên chợ, thuế nay thâu liền.

Ngày xưa Nam Việt cầm quyền,

Cớ sao không bắc cầu Trường Tiền mà qua?

Trách Tây hay đánh thuế ra,

Cầu Trường Tiền Tây bắc, Tây không qua một mình.

Lòng Tây vốn thiệt công bình,

Trẻ già lớn bé đồng tình như nhau.

Không phân kẻ khó, người giàu,

Ông tra*chết hết, trẻ sau này lớn lên,

Lão già hay lú hay quên,

Thời bắt giữ bộ thế điền thầy hương.

Văn khoa nhất, nhị, tam trường,

Truyền quan phúc hạch rõ đường văn khoa.

Đậu thời khỏi thuế nước nhà,

Không thời hai giác với mà hai nguyên.

Mấy cậu: giáo, ấm, tử viên(22),

Sắc bằng không có: hai nguyên hai hào!

Tây không niết sử người nào,

Thuế lệ nhà nước lí hào nhất danh.

Hãy còn viên tử, âm sanh,

Thuế lệ nhà nước, mỗi anh bốn hào.

Dĩ từ bổ thượng thấp cao,

Không nói chùa nào, nót việc chùa quan.

Trừ cho một bậc tăng canh (23),

Hãy còn các chú (24) lai hoàn như dân.

Ai ma lãnh sướng trăm phần,

Ngao du tự tại, lánh thân chùa chiền.

Chùa thời thờ Phật, thờ Tiên,

Chùa đem con gái ngửa nghiêng trong chùa?

Dĩ từ bổ thượng hơn thua,

Đã xong việc chùa; thưa cố, thưa cha,

Ngày xưa Nam Việt nước nhà,

Nay chừ Nam Việt, Lang sa dự đồng.

Bên lương xử việc đã xong,

Hãy còn bên giáo, xử đồng cân phân.

Chữ rằng pháp bất vị thân(25),

Chừ mà nghĩ bụng thế thần không hay.

Phương dân Nam Việt ở đây,

Có người nghịch mạng, nói đạo với Tây vị tình.

Thưa cha lấy phép công bình,

Bất kỳ ngoại, đạo phân minh rõ ràng.

Bên lương trừ thuế các quan,

Thầy chùa trừ thuế tăng cang, trụ trì.

Hãy còn mấy sãi từ bi,

Lánh thân nặng, nhẹ vậy thì chẳng tha.

Đạo thì một cố với cha,

Dĩ từ bổ thượng ai mà như nhau.

Còn ba chú Chệt bên Tàu,

Thông hành buôn bán, phố lầu nghênh ngang.

Truyền ra thuế lệ cái bang,

Mười đồng năm giác, rõ ràng nhất danh (26)

Mười đồng năm giác nhất danh,

Nước nhà trừ thuế mây anh đui què.

Mấy người điếc lác không nghe,

Tay chân không què, cứ thuế mà ra.

Đức ông cho chí đức bà,

Kim chi ngọc diệp, vậy mà phải khai.

Tính ra mấy gái mấy trai,

Tính mấy trăm mệ*, chia hai bạc vàng.

Có lời di chúc Tiên hoàng,

Chia hai bạc vàng cho đồng tử tôn.

Mấy hầm bạc nén, vàng chôn,

Chia ra chín hệ đường tôn(27)với cùng.

Chia ra chín hệ đường tôn,

Một lần triệt bổng, phát dồn ngũ niên.

Công sưu, công ích đã yên,

Hiệp định đồng tiền đồng đẳng chư nha.

Kể từ Nam Việt Tây qua,

Kiều lương, đạo lộ ngó đà hiển vang (28).

Đường đi từ Huế vô Hàn,

Tính ra phí lộ mấy quan mấy tiền.

Ai người Bình Định, Phú Yên,

Có ra bạc tiền đài các, trạm phu.

Thiên sơn vạn thủy dặm cù,

Tính bê lợi hại phải trù hỏa xa.

Ai ngồi ngoài trấn đường xa,

Người vô Bình Định, kẻ ra Bắc Kì.

Dẫu mà cha mẹ có chuyện chi,

Ra tin Bắc Kì cấp báo cũng mau.

Tây không niết dân lấy của làm giàu,

Thâu ra làm đó, chăng đề sau đem vê.

Lấp hố, phá núi thiếu chi,

Thêm dân một đồng mốt, vậy thì ưng không?

Một năm mười hai tháng, Tây không nói gì”.

IV

Cụ Thượng (29) nói lại làm ri:

“Xin cùng Đại Pháp nghĩ suy cho dân nhờ.

Ngó chừ có hạn ít mưa,

Bắp* đậu không trái, ruộng trưa* mất mùa.

Ruộng thời đại hạn, gạo thua,

Mất sáu bảy mùa các tỉnh xác xơ.

Nghĩ sao cho dân được nhờ,

Một mai tát nước lở bờ hư hao.

Tôi làm quan nhị phẩm tại trào,

Ăn no mặc ấm, chức cao lớn quyền.

Dân tình thuế lệ không yên,

Nghĩ ra cũng phiền, đáo để cho dân !

Thưa qua Đại Pháp trào thần,

Tôi xin giảm bổng cho phương dân ít nhiều”

“Sao ông quan lớn trong triều,

Mở lời ăn nói nhiều điều khác tai?

Tây nào có niết sử chi ai,

Nói tới không nói, mà ngài nói lui,

Ai đi buôn cũng muốn nhiều lời,

Gạo mình đã đổ vào nồi, còn bớt cho ai?”

Nghe qua mấy tiếng nói ngài,

Triều đình văn võ ai ai cũng nực cười.

“Tuổi đầu tôi đã sáu mươi,

Nghe ra nực cười, chuyện ấy khi không”.

Bách quan văn võ hội đông,

Nghe lời quan Thượng tỏ lòng với quốc gia:

“Kể từ Nam Việt Tây qua,

Về mặt hành chánh*nước nhà không đương(30).

Bày ra quốc học tự cường,

Hưởng lo trong nước, trào đường không tiếng chi.

Khi không xuất ý bất kì,

Đức vua Thành Thái ngự đi phương nào?

Triều đình phải nghĩ làm sao?

Làm quan phò chúa, ở trào này, phò ai?

Chỗ nào có măt, có tai,

Quyền đương Đại Pháp, nào ai dám quyền.

Lây ra tử kế phụ truyền (31)

Đem ai vô đó cho yên nước nhà.

Xui lòng xa xót, xót xa,

Đêm nằm nghĩ lại, con không cha không đành!

Càng buồn vì nỗi không cha:

Thưa cùng văn võ chư nha trong triều,

Tử sanh tôi chưa biết ngày nào,

Tôi lâm phải bệnh tổn hao nhiều ngày.

Xin dâng nạp chức tại đây,

Để về phục dược, họa may phận già !”

Triêu đình van võ chư nha,

Nghe lời quan Thượng nói ra hết tình.

Thưa qua văn võ triều đình,

Quê nhà chỉ dặm, lách mình lui ra.

V

Khi không bình địa phong ba,

Cũng đều nam bắc vậy mà đông tây;

Quảng Nam, Quảng Ngãi phen này,

“Cực lòng dân phải kêu ca,

Kể từ Đại Pháp, ngài qua Nam trào.

Làm cho thuế lệ càng cao,

Nên dân Nam trào nhiều kẻ suy vi.

Chẳng nghe ai nói chuyện chi,

Một lời với Pháp vậy thì hơn thua.

Nhiều năm cơ cực mất mùa,

Không ai nói việc hơn thua nước nhà.

Để quyền Đại Pháp Lang sa,

Dân đều muốn chết, chết mà không yên.

Thôi quyền Đại Pháp thì quyền,

Cho dân một số: tám tiền như xưa.

Đành lòng Đại Pháp hay chưa?

Dân về sinh lí ruộng trưa cho kịp thời”

“Khi không sinh sự nực cười,

Đủ dân các tỉnh vậy thời đến đây.

Nghe ai sinh sử cho bây.

Chòm ong lũ kiến cho rầy lỗ tai?”.

Chuyện này dân nó ra oai:

“Cực trong thuế lệ bên ngoài niết dân,

Ai giàu cũng hết lần lần,

Cực nghèo tới thuế bán thân đỡ mình.

Kêu trời, trời cũng làm thinh,

Cực lòng thuê lệ dân tình kêu ca.

Dân đành liều: chết trẻ khoẻ ma,

Ngài có bắn chết, chết mà cũng ưng.

Sống đây như cây úa nửa chừng,

Sống mà bị kềm kẹp, thà đừng còn hơn!”

“Tôi nay nói thiệt dân hay,

Làm thuê ăn bạc, tháng ngày với quốc gia.

Dân tình tới đó kêu ca,

Tôi đánh giây thép tin ra kinh kì

Hai giờ tới Huế một khi,

Mời quan cả hai nước vậy thì về đây.

Tôi ra xứ Huế được hay,

Mời quan Nam Việt về đây điều đình.

Mời quan Nam Việt về đây,

Kẻo mà tác ngụy, mình Tây không quyền.

Hỏa xa cấp báo cho liền,

Kẻo mà cai trị đảo điên khó lòng!”

Làm chi những việc khi không,

Làm chi sinh chuyện ra trong nước nhà.

Làm chi mà nổi người ta,

Cơ chi làm nổi nước nhà không hư hao.

Quan nhất nhị phẩm tại trào,

Buổi nguy phải chịu, bề nào có dại chi.

Hỏa xa cấp báo tức thì,

Vừa hai ông lớn một khi tới Hàn.

Lao xao lui tới nhộn nhàng,

Dân đừng làm loạn, thủng thẳng có quan Nam trào.

Tôi nghe sứ nói làm sao,

Thời quan Nam trào nói lại với dân.

“Lạy quan tể tướng đại thần,

Tiên hoàng thuở trước thương dân vô cùng.

Tiên hoàng buổi trước thương dân,

Mất mùa giảm đẳng (34), gia ân cho nhờ.

Không ngài dân cực sanh cơ,

Người ta lẫn trí không nhờ cậy ai.

Cúi đầu trăm lạy hai ngài,

Dân đây ở các tỉnh, môn khoai mất mùa.

Ruộng thì đại hạn, gạo thua,

Mất sáu bảy mùa không nghĩ cho dân.

Lấy chi công ích, công ơn,

Cha già, mẹ yếu khổ thân làm vầy !”

“Đủ dân các tỉnh tới đây,

Khắp trong huyện này, lý trưởng là ai?”

“Vì vô gia sản, thưa ngài,

Đem treo mộc triện ra ngoài đình trung.

Bao nhiêu thửa ruộng ngoài đồng,

Cực làm không nỗi, đều cùng bỏ hoang!

Nên chi đói khát cơ hàn,

Nhờ lượng Đại Pháp với quan phen này.

Nhờ quan Nam Việt phen này,

Kẻo mà Đại Pháp sang đây cải quyền (35).

Nước Nam buổi trước lành hiền,

Cho dân một số: tám tiền mà thôi.

Nam Giao, Xã Tắc cũng rồi,

Xây đền, đắp luỹ vậy thời không biết ai.

Đại Pháp sang đây quyên ngài,

Làm đường dân chết nằm hai bên đường.

Lập ra cái chỗ nhà thương ,

Cũng hai đồng sáu, trong xương dân tình!

Dân biết mà phải làm thinh,

Cầu Trường Tiền bà Từ Dũ cúng, dân tình lại qua.

Ngài về các xã truyền ra,

Bồng con tới trồng đậu, vợ mất bạc mà ngày sau.

Lạy quan Tể tướng Nam trào,

Cho dân một số: hai hào thường niên!”.

“Dân kia sao chẳng muốn yên,

Ngó vô Nam Việt, có ai quyền chi đâu?

Cơ chi Nam Việt có quyền,

Cho dân một số tám tiền mà thôi.

Bây nói với Tây, thế cũng không rồi,

Tan xương nát thịt, vậy thời hư hao.

Tôi là quan nhất phẩm tại trào,

Làng tôi cũng nhiều kẻ khóc gào thuế sưu.

Nước mình thiếu dũng, vô mưu,

Cái quyền thạnh nộ tích lưu nhiều ngày.

Tôi nay nói thiệt dân hay,

Trở về sinh lí tháng ngày thì hơn.

Theo bệ trưa ruộng câu may,

Hạn lâu thê, cũng có ngay mưa sả.

Quê cha đất tô ông bà,

Xưa vay nay trả, kêu ca làm gì?

Chẳng qua Nam Việt bại suy,

Tôi nay cũng biết, đợi gì dân kêu.

Thưa qua Đại Pháp một điều,

Giảm thuế cho chúng ít nhiều chi không?”.

“Xưa có mấy nước hội đồng,

Đứng vô thuận lí một lòng với Tây.

Nên cho Đại Pháp sang đây,

sẽ do lồng ý, mật mình Tây không quyền.

Hai tuần chủ nhật, có Toàn quyền lại đây.

Có quan Nam Việt nước này,

Cứu ra cho biết ai bày cho dân.

Bao nhiêu các tỉnh xa gần,

Dân mô về nấy, hai tuần tới đây!”

“Dân liều dân chết mặc thây,

Trước sau cũng chết ở đây, nhờ ngài!”

VI

Dân kia ăn nói khác tai,

Nhảy lên tàu cạn (38) ra ngoài kinh đô.

Truyền cho lính tập kéo vô,

Oai thương thạnh nộ*, chỗ mô* cũng phải về.

Hỏa xa cấp báo một bề,

Vừa hai ông lớn đã về tới kinh.

Hội thương cấp báo triều đình,

Bỗng đâu cái việc thình lình khi không.

Ngày xưa mây nước hội đồng,

Nay ai sinh chuyện ra công nước nhà.

Thánh hoàng mới bước chân ra,

Dân đâu các tỉnh kêu ca liều mình.

Không nói ra thì uất ức, bất bình,

Có người xui trẻ quấy mình mà chơi.

Nghĩ lâu, thôi lại nực cười,

Sanh* ra người đời tích hận làm chi.

Trách ai bất thiện, vô tri,

Tây qua hai mươi bảy năm ni* với triều thần (39).

Sửa đương việc nước cũng cần,

Chừ Tây hỏi thiệt đình thần chuyện chi.

Dân tình hẹp nghĩ, vụng suy,

Tưởng như ngày trước vậy thì còn cha.

Bao nhiêu con nít đàn bà,

Mất mùa, đại hạn kêu ca với ngài.

Nay chừ chăng biết kêu ai,

Tiên vương ngày trước, ngài thường thọ ân.

Ngài thường chẩn cấp trợ bần,

Mất mùa giảm thuế cho dân thỏa tình (40).

Hắn thêm việc rối cho mình,

Văn võ triều đình mang tiếng vì Tây.

Khi không sinh chuyện ra đây,

Người dân các tỉnh kéo đến lầu Tây rộn ràng.

Kéo vô mà lạy quý quan:

“Ngài ơi, dân tình đồ khổ, cơ hàn lắm thay,

Cho nên kéo tới xin đây,

Trước nhờ Đại Pháp, quan Tây nghĩ cùng:

Bao nhiêu trưa ruộng ngoài đồng,

Mùa màng mất hết, không trông chi mùa.

Dân tình buổi trước nhờ vua,

Ruồng có mất mùa, có gạo trong kho”.

Nhân tâm mạc trắc(41)khó dò,

Có người xui trẻ giả đò* tới xin.

Dặn cùng lính tập đừng tin,

Dân tình trở dạ phải vin máy cò (42).

Trước sau thời cũng giảm cho,

Hội thương hai nước căn do có ngài.

Việc này không biết nghe ai,

Dân đâu lòng một dạ hai với mình (43).

Hội thương cấp báo triều đình,

Bỗng đâu có chuyện thình lình bởi ai.

Đông tây nam bắc trong ngoài,

Người nào sinh sự, các ngài biết không?

Vô tình cái chuyện khi không,

Khó soi chậu úp, biết lòng ai ngay.

Không ai sinh sự biểu bày,

Chừ * mà sinh chuyện ra đây khó lòng…

Cậy cùng quan võ triều trung,

Chấp đương quyền ấn tây đông rộn ràng.

Chờ cho ngọn gió qua làn,

Ngân hoàng diện phái sự hoàn tôn vương.

Cứ trong cốt cách phi thường,

Kim chi ngọc diệp, sửa đương nước nhà.

Đỡ lời Đại Pháp chư nha:

“Phận tôi bách tánh, truyền mà khó nghe,

Thế thường nhiều kẻ ong ve (44),

Một hai mang tiếng chẳng thè (45) kém chi”.

“Can chi quan lớn hồ nghi,

Trước có Đại Pháp chứng tri đến cùng.

Ngài làm Tể tướng triều trung,

Chấp đường một buổi tây đông rõ ràng”.

Vào cung thiên địa ngọc hoàng,

Không nghe Đại Pháp lưỡng nan khó lòng.

Rộn ràng nam bắc tây đông,

Thiên hạ cứ tới chọc ông mà cười.

Lâm nguy không chịu với trời,

Sao không tùy thời, một buổi cho qua.

Đem lòng khinh địch người ta,

Chết khô chẳng nước kẻo mà mất thây.

Thành hang sao đặng chuột bầy(46),

Bẻ que củi mục mà quay hang rùa.

Khi không đem cố mua gông,

Quan mình tra khảo, cò đầm (47) bớp tai.

Nội triều quan lớn Thượng Bài (48),

Hội thương cẩn tín đã hai giờ chiều.

Họa may giảm đặng ít nhiều,

Toàn quyền mới tới, nội triều đủ bách quan.

Hội thương hai nước luận bàn,

Xét ra là chuyện vô tang khó lòng.

Làm chi như kiến như ong,

Hắn đi đập bậy bạ không xong nỗi gì.

Cớ chi tới đó nó quỳ,

Một lời dịu ngọt, vậy thì phải tha.

Đem lòng kình địch người ta,

Bẻ dù quăng nón, khiến người ta lìa giày.

Có người giả tỉnh giả say,

Giả làm lí trưởng, cả ngày vênh vang.

Xét ra không phái là sang,

Hắn đi đập bậy, thêm mang tiềng đời.

Nước Nam nhiều kẻ ăn chơi,

Móc mánh quái sự (49) ở đời mĩ danh,

Sử sanh này nọ mĩ danh tiếng mình.

Đại Pháp biết vậy, vẫn làm thinh,

Lí ưng tra tấn tỏ tình ngay gian.

Sao không đồng thuận một ngày,

Rủ dân các tỉnh đến lầu tây rùng rùng.

Sông cùng, cá lội không cùng,

Để cho thế sự vẫy vùng mặc ai.

Ta ra yết thị đại bài,

Nam, bắc, lục tỉnh ra ngoài phương dân:

Hai đồng sáu giác công ngân,

Thường niên chiếu lệ thuế thân nước nhà!

Nguồn:

VTTH, tr 238-265.

Tuy mang tên “Vè thuế thân”, nhưng bài vè không chỉ nói riêng về thuế thân mà còn về nhiều loại thuế khác do thực dân Pháp áp đặt, đè nặng lên vai nhân dân. Bên cạnh đó, bài vè còn đề cập đến bà Từ Dũ, đến một cụ Thượng xin thuế cho dân, và cuộc đấu tranh đòi giảm thuế của nhân dân Quảng Nam, Quảng Ngãi (3-1908),…

Bài vè có khả năng ra đời trong khoảng từ tháng 3-1908 (thời điểm xảy ra sự kiện chống thuế của nhân dân Quảng Nam, Quảng Ngãi và các tỉnh Trung Kì) đến trước 1933 (thời điểm Nguyễn Hữu Bài và bốn Thượng thư khác bị Bảo Đại bãi chức).

Tóm tắt:

Bài vè gồm 664 dòng thơ lục bát, có thể chia làm 6 đoạn:

  1. I) Từ dòng 1 đến dòng 150: Bà Từ Dũ sang tòa Khâm sứ để xin thuế.
  1. II) Từ dòng 151 đến dòng 290: Bà Từ Dũ mất và đám tang của bà.

III) Từ dòng 291 đến dòng 378: Lí lẽ của Tây về lí do thu thuế, các đối tượng chịu thuế, và mức thuế.

  1. IV) Từ dòng 379 đến dòng 428: Một cụ Thượng ngỏ lời xin thuế không được, nói lời phải chăng rồi xin từ quan về hưu.
  1. V) Từ dòng 429 đển dòng 552: Nhân dân Quảng Nam,Quảng Ngãi đấu tranh giảm thuế. công sứ hai tỉnh yêu cầu Nam triều cử người vào giải quyết. Hai đại thân ở Huế vào không giải quyết được gì phải trở ra.

VI)Từ đông 533 đến đông 664: Pháp và Nam triều quyết định trấn áp. Hồi nghị giữa Toàn quyền Pháp và Nam triều không đem lại điều gì mới mẻ.

Chú thích:

(1) Mậu Tuất: năm 1898.

(2) Rêu rao: nghĩa như kêu ca.

(3) Thương sứ: các dòng tiếp theo gọi là “sứ toà”, chỉ tòà Khâm (hình thành sau hiệp ước Hácmăng, ngày 25-8-1883).

(4) Nghị: thảo luận, bàn định.

(5) Bông sua: bonjour (chào).

(6) Thuế đồng niên: thuế thu một lần cho cả năm.

(7) Suy: suy xét, cân nhắc.

(8) Ý cả dòng: cần gì những chuyện vặt vãnh, nhỏ nhặt.

(9) Ý bà Từ Dũ muốn xin bỏ (hoặc bớt) thuế muối.

(10) Đầu gối quá tai: chỉ lúc già cả, rũ rượi.

(11) Bóng xế về đông: bóng xế về đông lúc mặt trời sắp lặn, chỉ cái chết.

(12) Nhân phân: dùng với nghĩa như nhân nhượng.

(13) Ý cả dòng: Việt Nam, đất nước thì giàu đẹp, con người thì ăn chơi sang trọng.

(14) Kí ngụ: ở đâu.

(15) Mười phân: mười phần (nghĩa tương tự như mười mươi), tức đã rõ ràng, chắc chắn.

(16) Ngũ trưởng: người đứng đầu toán lính năm người.

(17) Hồi cung: về cung; ở đây, dùng với nghĩa chết (kiểu nói tránh, nói giảm).

(18) Phùng tượng: thợ may.

(19) Ý cả câu: niêm yết, kể từ nay, cấm dùng vải điều đỏ trong ba năm.

(20) Ý nói: bắt khoan bắt nhặt khi sai bảo kẻ dưới, thì không có tang chứng.

(21) Sau dòng này, có thể có bỏ sót một đoạn.

(22) Chỉ giáo sanh, ấm sanh viên tử,…,con cháu quan lại nói chung, được hưởng đặc cách, ưu đãi trong chế độ phong kiến.

(23) Tăng canh: tăng cang (sư trưởng).

(24) Các chú: chỉ các chú tiểu.

(25) Pháp bất vị thân: luật pháp không vì chỗ thân tình mà không thực hiện.

(26) Ý nói, một mức duy nhất (cho đối tượng được đề cập).

(27) Chín hệ đường tôn: chỉ các hệ phái của hoàng tộc, ít nhiều có hưởng bổng lộc, tước vị vua ban.

(28) Diễn nghĩa cả dòng: cầu cống, đường sá, trông rất sáng sủa, thuận lợi.

(29) Cụ Thượng: chưa rõ tên tuổi.

(30) Đương: đảm đương, đương trách.

(31) Tử kế phụ truyền: cha truyền con nối.

(32) Tháng 3-1908, nhân dân các phủ, huyện thuộc Quảng Nam, Quảng Ngãi nổi lên biểu tình đòi giảm xâu thuế. Phong trào khá rộng khắp, mạnh mẽ, khiến các công sứ Pháp và quan lại Nam triều nao núng.

(33) Tác nguy: làm điều sai trái.

(34) Đẳng: bậc, cấp; ở đây, chỉ mức thuế.

(35) Cải quyền: áp đặt quyền lực cai trị lên người khác.

(36) Ý nói: tiêm chủng ngừa bệnh đậu mùa, cũng phải tốn kém.

(37) Cứu: tra cứu, nghiên cứu (nói tắt).

(38) Tàu cạn: chỉ tàu hỏa.

(39) Nếu tính từ ngày thất thủ kinh đô  5-7-1885, thì 27 năm sau (thời điểm xảy ra sự việc được nói đến), là năm 1912.

(40) Từ dòng 573 đên dòng 580, ý nói ngày trước, khi vua có quyền hành thị dân đói khổ sẽ được phát chấn, giảm thuế, còn nay Tây cầm quyền thì đói khô mặc kệ, thuế vẫn không giảm.

(41) Nhân tâm mạc trắc: lòng người khó dò.

(42) Ý nói, dân tình thay lòng đổi dạ khó lường, phải dùng vũ lực để trấn áp.

(43) Hiểu là: 1) Dân đâu có một lòng một dạ với mình; hay 2) Dân gì đâu mà một dạ hai lòng, không trung thực, thuỷ chung với mình (chút nào).

(44) Ong ve: lời ong tiếng ve; lời ra tiếng vào những điều không hay.

(45) Chăng thè: chăng thà.

(46) Lấy ý từ câu tục ngữ “Chuột bầy đào không nên lỗ”.

(47) Cò đầm: chỉ bọn Pháp (cò: cảnh sát; đầm: phụ nữ Pháp).

(48) Thượng Bài: Thượng thư Bộ lại Nguyễn Hữu Bài (bị Bảo Đại bãi chức năm 1933).

(49) Móc mách quái sự: thóc mách chuyện lạ.

Người số hóa

Tôn Nữ Thái Bảo Trân

Người hiệu đính

Nguyễn Thị Thảo Như