TỔNG TẬP VĂN HỌC DÂN GIAN XỨ HUẾ – VÈ, TRUYỆN THƠ (TẬP III)

1 tháng trước

VỀ THẦY PHÁP

Tề Thiên Đại Thánh,

Ban sắc cho ta:

Một quả hồng đào,

Mai sau trốn khỏi;

Lại thêm củ tỏi,

Phòng để trong lưng;

Lại thêm cục gừng,

Phòng khi mắm thúi;

Với lại cục kì,

Phòng khi ve gái.

Người ngang qua,

Thấy đón lại:

Quân tử hảo cầu, Các chị đi đâu?

Thò tay bóp vú!

Lại thêm cái mụ,

Chồng đi năm nay,

Bôn bức ra đi,

Thầy dang tay đón lại.

Mời vô trong trại,

Thấy nói thiệt thà,

Thầy làm miếng quyết!

Lại thêm một việc:

Con gái đôi mươi,

Ăn mặc tốt tươi,

 

Thầy chảy ròng nước miếng!

Chíp chíp, cái miệng,

Chẳng biết làm sao;

Cứ đi phía sau,

Cả ngày đến tối!

Nói ra cho tội,

Thầy nỏ có nu.

Những đứa hung cường,

Những đồ bạo ngược,

Tự sau chí trước,

Phép thầy rất hay;

Thầy chú một bài,

Đố bay trốn khỏi.

Sông không đò,

Thầy qua cũng được;

Hói không cầu,

Thầy vượt cũng qua;

Cá trên bàu,

Thầy tung cũng xuống.

Bụng thấy sôi cuồn cuộn,

Dọn cơm chủ chẳng kịp mời,

Thầy a lại như dơi thấy chuối!

Đêm đêm thầy hoá thành con muỗi,

Cầm một bó đuốc tre,

Tay huơ chân bước.

Phen này bắt được chúng mày,

Tam hồn năm được trong tay,

Chín vía tìm vày một đống

Ai ăn gạo sống,

Thì bắt ra đây;

Thầy chú một tiếng,

Thì tật hết ngay.

Ai da nghệ,

Có bệnh ăn chùng,

Chọ thầy một đồng,

Thầy chuyên cũng hết.

Nước sôi chưa?

Rót thầy một đọi”;

Gà xôi đâu, đem ra xé dọn,

Cua cúng đâu, đưa thấy xem cọng,

Rượu cúng rồi, xách thẩu ra đây!

Mền, phao câu riêng một dĩa cho thầy,

Chủ có cúng bánh tày sao mà chẳng dọn?

Thịt gà đâu,

Không xương, không ón”,

Không cánh, không giò?

Ăn rồi, bấm chú học trò,

Ngả khăn ra trút đem cho vợ.

Chừ về cũng lợ,

Ngủ lại đây sáng trở về nhà.

Mới canh ba, thầy đã nói đà:

Nước luộc gà sao mà không nấu cháo?

Đổ gạo nấu cháo thầy ăn, lát thầy về.

Ăn rồi lại vuốt râu dê,

Bụng sôi ầm ầm, cổi quần không kịp

Trên đầu, tóc như con bịp bịp (2),

Dưới đít thì đánh rấm liên thanh;

Hai bên chó chạy loanh quanh,

Bốn phía trùng bay rợp rợp (3)

Muông chó rình rập,

Mắt chớp như sao.

Đứng xa xa thấy rúc một tiếng còi,

Âm binh tới lãnh kì diêm mễ (4)

Nguồn:

Từ Sổ tay sưu tầm VHDG của người viết, chép năm 1989, tại xã Vinh Hiền, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Năm 2006, bài vè được giới thiệu ở Tập san Nghiên cứu Văn hoá dân gian Thừa Thiên Huế, 12-2006, tr 166-167 (người sưu tầm ghi tên tắt: Τ.Ν.)

Bài vè ra đời khoảng thế kỉ XIX

Chú thích:

(1) Theo tin tưởng trong dân gian, người đàn ông có ba hồn bày vía (tam hồn thất phách), người đàn bà cũng có ba hồn nhưng nhiều hơn đàn ông hai vía (thành chín vía).

(2) Bip bịp: bìm bịp

(3 ) Bay rợp rợp: bay nhiều, vẻ hối hả, lộn xộn. (4) Diêm mễ: muối và gạo.

Người số hóa

Võ Thị Như Ngọc

Người hiệu đính

Nguyễn Thị Thảo Như