TỔNG TẬP VĂN HỌC DÂN GIAN XỨ HUẾ – VÈ, TRUYỆN THƠ (TẬP III)

1 tháng trước

 

 VÈ THẤT THỦ THUẬN AN

Giở trang quốc sử nước nhà

Tơ vò trăm đoạn, lệ sa hai hàng!

Năm Mùi hiện tượng kinh hoàng,

Trên trời ráng đỏ, rìa vàng, tán xanh

Ngẫm xem thời vận nước mình,

Nhân dân đồ khổ, triều đình đa đoan.

Vua quan tự mãn, cầu an,

Ít lo việc nước, chỉ bàn văn chương.

Có người hiến sách cải lương,

Cho người du học theo đường văn minh.

Thế nhưng tất cả triều đình,

Chẳng nghe thời chớ, gia hình thương ôi!

Cho rằng: “Nước chỉ chảy xuôi,

Đèn kia đỏ ngược, lẽ trời quai vi?

Xe gì không kéo đẩy đi,

Mà xe tự chuyển, chuyện kì khó nghe?

Nhật là mọi thấp lè tè,

Thì theo học mọi một bề lạ chi?

Việt Nam là giống thần kì,

Con thần cháu thánh chuyện gì học ai?”.

Thế nên chăm việc thơ bài,

Gió ùn sóng giục bên ngoài mặc thây.

Bế quan toả cảng, khoanh tay,

Để cho tiếng sấm nổ ngay đất bằng.

Ngoài thì quân Pháp xâm lăng,

Trong vua Tự Đức sao băng tháng mùi.

Ở ngôi băm sáu năm trời,

Không con kế tự, than ôi lỡ làng

Muốn cho đế hệ miên tràng,

Ngài nuôi ba vị điệt hoàng trong cung.

Bây giờ thánh thể tương chung,

Triệu triều thần lại, phán cùng bá quan:

“Sau khi trẫm cỡi xe loan,

Phải theo di chiếu cho an nước nhà.

Trẫm nuôi hoàng điệt có ba,

Ngôi trời kế vị phải là trưởng huynh.

Di ngôn truyền lại chư khanh,

Trước hai Phụ chánh nhân danh đại thần.

Chữ rằng: Thần báo quân ân,

Hoàng thiên hữu nhãn, mười phần xét soi”.

Ban xong di chúc mấy lời,

Ngài liền án giá về thời thiên cung.

Bá quan hiện diện cung trung,

Cả văn lẫn võ vô cùng ai bị.

Trong khi quốc thế lâm nguy,

Nam Quan, Bắc Lạng đang kì binh qua.

Ngày nay thánh đế băng hà,

Than ôi việc nước sao mà rối bong.

Cùng nhau lạy trước mình rồng,

Thảy đều châu lụy ròng ròng như mưa!

Hoàng môn khi ấy liền thưa:

“Nước nhà chớ để không vua một ngày,

Xin tuân di chiếu định ngày,

Rước hoàng trưởng tử, tôn ngay ngôi rồng”.

Tư văn bố cáo ngoài trong,

Cho trăm họ khỏi long đong đảo huyền.

Triều thần tất cả an nhiên,

Hai quan Phụ chánh liền truyền lệnh ra:

“Truyền đem phụng liễn, loan xa,

Rước ông Dục Đức về mà đăng quang”.

Được ba ngày ở ngai vàng,

Bỗng dưng tiếng dữ nghe vang trong ngoài.

Nhân dân nào rõ nguyên lai,

Cùng nhau bàn tán vắn dài thở than.

Việc nơi cung khuyết triều đàng,

Chỉ duy văn võ bá quan mới tường.

Thế nhưng các bậc đống lương,

Không nghe một tiếng đường đường biện minh.

Chỉ đành đánh chữ mần thinh,

Để cho hai gã mặc tình tác oai.

Đã không cho ngự trên ngai,

Lại đem cấm cố, then cài khoá ngăn.

Cấm hàng quốc thích, hoàng thân,

Viếng thăm, bới xách, muôn phần thương ôi!

Nội triều ngậm miệng im hơi,

Dám đâu bẻ nạng chống trời mà mong.

Có quan Ngự sử Đình Phùng,

Là người khẳng khái cương trung xưa rày,

Dám dùng lẽ chánh lời ngay,

Đứng ra đàn hặc, chẳng mảy may kiêng dè.

Hai ông đã chẳng thèm nghe,

Lại còn cách chức, đuổi về làm dân.

Ghê thay hai gã lộng thần,

Làm điều cực ác phi luân, nỡ lòng!

Truất ngôi, đem bỏ lao lung,

E rằng vây cánh đem ông bôn đào.

Họ bèn truyền lệnh gắt gao:

“Cấm không ai được kẻ vào người ra:

Thân bằng, quyến thuộc gần xa,

Dầu là cốt nhục, dầu là thân sinh.

Không tuân sẽ bị cực hình,

Chỉ trừ đặc biệt một mình vợ thôi”.

Từ ngày ông bị truất ngôi,

Năm ngày bà được vào nơi ngục đình.

Thấy điều nghiêm ngặt mà kinh,

Ngục quan khám xét cùng mình khắp nơi.

Khám xong hùng hổ thốt lời:

“Hãy đi vào gấp, thăm rồi mà ra!”.

Như ai xui khiến cho bà,

Biết ông đói khát, chắc đà héo khô.

Vào thăm bới xách không cho,

Giả vờ ngửa mặt bờ hồ trượt chân.

Loi ngoi ướt hết áo quần,

Lội lên được phép vào gần để thăm.

Mang theo quần áo ướt đầm,

Vừa than vừa nháy hiệu ngầm cho ông.

Năm ngày khô cổ, đói lòng,

Ông liền vắt uống như rồng một thôi!

Cùng nhau khóc lóc một hồi,

Một lời vĩnh quyết, đất trời ngừng quay.

Không cơm không nước sáu ngày,

Quá cơn ông nuốt khăn tay vào lòng.

Đáng ra bảy bữa là xong,

Nhờ khăn tay ấy mà ông thêm ngày,

Đến khi nhắm mắt xuôi tay,

Chỉ hai người lính khiêng này đem đi.

Làm theo mật lệnh thuyền thi:

Đem lên chôn tại chu vi Ngự Bình.

Ai ngờ một việc thiên sinh:

Đến đồng An Cựu thình lình đứt dây.

Đi xa, gánh lại nặng thay;

Bàn nhau: “Chôn quách nơi này đi thôi!”.

Ra tay hạ bệ ông rồi,

Nội triều văn võ đều coi làm thường.

Ngang nhiên nhiễu loạn triều cương,

Đình thần đều sợ tai ương vào mình.

Tha hồ hai gã lộng hành,

Muốn cho ai bại, ai thành thì cho.

Đình thần đều rụt cổ cò,

Cùng nhau chỉ biết nhỏ to xầm xì.

Ba ngang một số đáng vì,

Lại thêm chữ bạch thành chỉ ra hoàng.

Làm điều tàn ngược, dọc ngang,

Lộng quyền phế lập có màng ai đâu.

Thánh hoàng an giá chưa lâu,

Manh tâm vi mạng ngõ hầu tự chuyên.

Ra tay truất phế đã yên,

Lại e thiên hạ đảo huyền phân vân.

Bàn cùng văn võ đình thần,

Rước ông Hồng Dật, hoàng thân trưởng thành.

Rộn ràng xa giá cung nghênh

Tuyên ngôn bố cáo: “Trạch danh trí tài”

Chữ lương”, “nguyệt” đứng ngang vai

Tức là Văn Lãng, tôn ngài lên ngôi

Chẳng qua vận nước, thời trời,

Xui nên hai gã đổi dời kỉ cương.

Xui ra trưng triệu bất tường.

Đồng dao “tứ nguyệt tam vương” lan tràn.

Những là “phân thuyết” tối nan,

“Nhất giang lưỡng quốc”, khốn an nước nhà.

Tiên hoàng vừa mới chơi xa,

Những đàn với hặc, thôi đà tứ tung!

Ai mà nghịch ý, không dung,

Biết đường xu phụ, a tùng thì thôi.

Tân quân lo sợ bồi hồi,

Ngồi trên bệ ngọc như ngồi đầu voi.

Đầu voi ai buộc mình ngồi,

Thấy xe đi trước nghiêng nồi mà e!

Một hôm nước mắt dầm dề,

Vào tâu Thái hậu, tỉ tê mấy lời:

“Phần con nguy lắm, mẹ ơi!

Cớ sao họ bắt lên ngôi làm gì?

Đêm ngày con những sầu bi,

Làm vua mà có quyền chi đâu nào?”

Thánh bà nước mắt tuôn trào,

Ôm con: “Mẹ cũng ngồi nào có yên”.

Ai ngờ Hoàng đế quy thiên,

Xui nên triều chính đảo điên trăm bề.

Ba quân thiên hạ đều ghê,

Quyền hào hai gã tràn trề mà kinh!

Ưng ai tự tác tự hành,

Cầm quyền sinh sát, xưng danh “tướng thần”.

Từ khi tiền đế mãn phần,

Xong phần phế lập, đến phần trị tang.

Tân quân ngự tại đền vàng,

Phán truyền văn võ phát tang trạch ngày.

Các quan Lễ bộ tâu bày:

Thông tư bá tánh biết rày quốc tang.

Quận, châu, thôn, ấp, xóm làng,

Tú tài, bá hộ thọ tang trăm ngày.

Quốc tang tối trọng xưa nay,

Phải theo quốc lệ cấm ngay mọi điều:

Cấm dùng vũ nhạc tiêu, thiều,

Cấm dùng màu sắc đỏ điều, thắm xanh

Từ quan lại đến dân binh,

Đều toàn một sắc trắng tinh mà dùng.

Tỉnh quan sở tại hội đồng,

Tuân hành nhất thiết hết lòng liệu lo.

Những kì tế tự nhỏ to,

Thiết nhi bất tác, chớ cho linh đình.

Bao giờ tang tế sự thành,

Lại tư châu quận, thị thành tường tri.

Nói về giàn giá tang nghi,

Lâu đài, cung điện đều ghi vẻ sầu.

Ngọ Môn năm cửa chín lầu,

Và từ Lương Tạ, Phu Văn Lâu ngoài thành;

Thái Hoà, Cần Chánh, Quang Minh

Văn Minh, Võ Hiển, Càn Thành, Cung Môn,…

Cấm Thành rực rỡ vàng son,

Gặp tang Thánh đế hao mòn vẻ sinh.

Phụng Tiên, Diên Thọ, Trường Ninh,

Cửa Nội, Chương Đức, Hoà Bình, Hiển Nhơn,…

Các cung Trường Lạc, Khâm Văn,

Tang nghi các thứ đều trần thiết ra,

Thay cho rèm tản, hoàng la;

Lại còn cắt đặt quan nha chầu hầu.

Nội cung Thái giám đứng đầu,

Cẩm y, Loan giá thì chầu bên ngai.

Cẩm binh, Túc vệ đứng ngoài,

Thượng trà, Thượng thiện , liệt bài nghiêm trang.

Tinh binh túc trực hai hàng,

Chầu hầu Hoàng đế nghiêm trang vô cùng.

Lại còn thuỷ bộ sang sông,

Long châu lệ hải dự đồng bái tang.

Triều thần văn võ các hàm,

Cứ theo phẩm trật thọ tang hết lòng.

Tang nghi đâu đấy đã xong,

Khâm thiên, Bộ lễ hội đồng một khi.

Trạch ngày nguyệt đức tuế chi,

Thiên ân, thiên đức được thì mới hay.

Tra đi, phúc lại ghê thay,

Cuối cùng hăm tám là ngày ninh lăng.

Đến ngày quân kéo cờ giăng,

Nghênh lên an tại Khiêm lăng, sự hoàn.

Ninh lăng tang lễ vừa an,

Bỗng đâu có sớ trong Hàn về kinh.

Sớ về tâu rõ sự tình:

Rằng nay quân Pháp thình lình vào đây.

Bộ quan chẳng dám trễ chầy.

Điện tiền vội vã giãi bày, tâu qua

“Tàu Tây đậu tại Sơn Chà,

Một đoàn tám chiếc, quân mà cũng đông”.

Tân quân phán trước bệ rồng:

“Lang sa sứ vụ thường dùng vật chi?”

Bá quan tâu trước đơn trì:

“Lợn, bò, chuối nải, có khi trứng gà”.

Tân quân ngự chỉ phán ra:

“Phải chăng Tây lại niết ta rõ ràng?

Nước ta vừa gặp quốc tang,

Thừa khi bối rối, nó càng giương uy.

Từ năm Nhâm Ngọ trở đi,

Mực sa xuống giấy dễ gì tẩy ra.

Tiên hoàng trước phải nghị hòa,

Miền Đông ba tỉnh, Tây đà chiếm tranh.

Đoạt xong họ lại sự sanh,

Chẳng qua là lúc nước mình suy vi.

Bây giờ trẫm phán làm ri …

Các quan cơ mật vậy thì liệu toan.

Quốc tang vừa mới sự hoàn,

Liệu bề thu xếp cho an nước nhà”.

Triều đình nghị kế chưa ra,

Thì tàu Tây đã đến mà Thuận An!

Thuận An xung yếu muôn vàn,

Có thành Trấn Hải bảo toàn quốc gia.

Ngày rằm nó ở Sơn Chà,

Qua ngày mười sáu nó ra Hải thành.

Tàu Tây đến lúc bình minh,

Nó xin vào cửa, quan mình không cho.

Pháp lang bèn bắn tin vô:

“Trước là điếu lễ, sau phò Nam bang;

Trước là dâng lễ điếu tang,

Sau là bàn việc miếu đàng quốc gia”.

Quan Tiễu khi ấy truyền ra:

“Nói thì hay vậy, nhưng mà khó tin,

Kìa kìa ai nấy hãy nhìn

Tam tài cứ kéo, khó tin phải phòng”.

Ngài liền tả bức tấu phong:

“Trước tâu Chúa thượng sau cùng các quan,

Tây nay đến cửa Thuận An,

Tàu đồng tám chiếc và ngàn tinh binh.

Tâu vua, bẩm với triều đình

Để xin cự chiến, giao tranh thi tài.

Làm cho đứt nẻo vãng lai,

Tiếp nghênh, yến ẩm bày hoài nó khinh”.

Một mặt phi tấu triều đình,

Một mặt bố trận bài binh đề phòng.

Luỹ tả, luỹ hữu, đạo trung,

Riêng phần đạo hậu đóng trong Hải đài.

Lệnh truyền kiếm, kích bài khai,

Quyết tâm sống mái một hai mất còn.

Truyền quân phận sự cho tròn,

Truyền xong ngài lại qua đồn Hoà Duân.

Truyền quân phấn khởi tinh thần,

Trong ngoài chỉnh bị mười phần hẳn hoi.

Quân ta chuẩn bị vừa rồi,

Thì liền súng nổ ngoài khơi bắn vào.

Gặp khi biển động ba đào,

Không đổ bộ được, nó ào bắn vô.

Bao nhiêu ghe nôốc thuyền đò,

Thoảng nghe tiếng súng đều lo lắng mình.

Quanh vùng thôn xã, dân đinh,

Quá kinh tiếng súng, băng mình chạy xa.

Ùn ùn bỏ của bỏ nhà

Phen này chắc khổ theo mà giặc Tây!

Ban mai mười sáu, nửa ngày,

Trưa chiều thì tiếng súng rày lặng tanh.

Bên ta vẫn cứ điều binh,

Đến ngày mười bảy giao tranh đì đùng.

Quân ta gươm tuốt, giáo vung,

Súng thì súng xấu, bắn không trúng gì.

Ngẫm xem thật cũng dị kì,

Điều ngây thơ ấy ai thì nghĩ ra:

Giặc Tây đến đánh nước ta,

Ta mua súng nó để mà đánh nhau.

Biết rằng kẻ dại to đầu,

Bán cho còn nó vài câu nhún nhường.

Bán cho loại súng điều thương,

Loại này là loại họ thường bắn chim.

Than ôi, vận nước đắm chìm,

Mới ra cớ sự cổ kim để cười!

Thần công thì thật trời ơi,

Nạy xeo không chuyển, nghĩ thời ruột đau!

Đạn to như thế cái đầu,

Bắn ra có chết ai đâu mà hòng!

Tây thời ở dưới tàu đồng,

Bắn lên như xối, đùng đùng ghê thay.

Quân ta gãy cẳng, gãy tay,

Bể đầu, lủng bụng, thảm thay đoạn tình!

Sớ lên phi báo triều đình,

Tâu cùng chúa thượng và trình bá quan:

Xin thêm quân viện hai hàng,

Để giữ cửa Thuận vẹn toàn nguyên y.

Thánh hoàng chuẩn tấu một khi,

Và phê quan tướng vậy thì cầm binh.

Tuyển toàn giáo dưỡng, anh danh,

Võ khoa, võ cử, hậu hành tiếp cung.

Ra tài tả đột, hữu xung,

Quyết trừ cường khấu, an trong nước nhà.

Trong đêm mười bảy, canh ba,

Đông Ba lệnh mở cửa ra tức thì.

Lệnh truyền bất lậu quân ki,

Vừa về Phố Lở, ngài thì trở lui.

Sớ chương cấp tấu tức thời:

Bất thần lâm bệnh, phải hồi bản dinh.

Lệnh kì giao lại giáo đình,

Bá quan đều phải ngậm thinh thôi mà.

Có ai mà dám phui ra,

Có ai tham hặc, giao qua bộ hình.

Làm điều ám muội bất minh,

Cương thường đạt lí, niết tình mà thôi.

Tướng quan cáo bệnh phản hồi,

Viện binh vẫn cứ thúc thôi tiến hành.

 

Quyết bề cự địch giao tranh,

Cho Tây nó biết dân mình dám chơi.

Đêm nay vần vụ, tối trời,

Đường đi lại nhọc, quân thời ngủ say.

Canh năm trống cổ lầu tây,

Lệnh truyền cơm nước đâu đây sẵn sàng.

Nịt nai giáo vác, gươm mang,

Hễ mà được lệnh, nhất tràng tấn công.

Gian nguy nào có sờn lòng,

Ngày ròng dãi nắng, đêm ròng dầm sương.

Dầu cho lao khổ trăm đường,

Quyết lòng bảo vệ biên cương Nam trào.

Ai ngờ Tây thật chước cao,

Nó tìm cửa lấp, nước trào nhảy vô.

Trùng trùng vạn hác thiên hô,

Phân ra từng toán, nó hô bắn liền.

Đánh nhau với đạo quân tiền,

Thật là động địa kinh thiên đùng đùng!

Quân ta chống trả oai hùng,

Một lòng vì nước, một lòng vì vua.

Khổ vì chiến cụ kém thua,

Lại là những thứ đi mua kia mà.

Đạn thì nào có đúc ra,

Đến khi bắn hết, kêu la ồn ào.

Nhưng lòng ái quốc quá cao,

Đạn ria súng nổ, chẳng nao tấc lòng!

Lập ra trận tuyến hỏa long,

Quăng ra trái nổ làm vòng cản ngăn.

Khổ vì giặc mạnh vô ngần,

Quân ta thí mạng ngã lăn liên bì.

Hai ngàn lính Quảng Trà Mi,

Cũng đều vong mạng còn gì nữa đâu!

Người thì rớt chết phá sâu,

Người thì dập xác, mất đầu, quá kinh!

Hừng đông nó đã tiến binh,

Dân gian bừng tỉnh, thất kinh rụng rời!

Khóc la dậy đất vang trời,

Lao xao chạy loạn, tả tơi giày bừa.

Súng Tây nó bắn như mưa,

Kho tàng đổ nát, cây dừa gãy tung.

Ngoài khơi nó rót thần công,

Dầu cho vách sắt, thành đồng cũng tan!

Nhân dân kêu khóc than van,

Trời ơi, trời giúp chi đoàn lâu la!

Đồn Hoà, quan Tiễu trở qua,

Kêu trời, trời hỡi, trời mà thấu đâu.

Thuận An là chỗ yết hầu

Nay Tây chiếm đoạt, thảm đau hỡi trời!

Hai hàng châu lụy tuôn rơi,

Trời già độc địa hại thời Nam bang.

Ngẫm xem lực lượng hai đàng,

Một trời một vực rõ ràng nói chi.

Đã thua phương tiện chuyển di,

Quân trang, chiến cụ đều thì thô sơ.

Dẫu lòng vị quốc vô bờ,

Mà thua khí giới, khó cơ kiên trì.

Lại làm sớ tấu báo nguy,

Tâu lên Chúa thượng với thì bá quan:

“Tây đà chiếm lấy Thuận An,

Quân chết gần hết mà quan chẳng còn.

Súng Tây phá luỹ, công đồn,

Các quan Trấn Hải chẳng còn một ông.

Nào quan Chưởng vệ Nguyễn Trung,

Vì trung mà đã theo cùng nước non.

Quan Thống Lê Chuẩn chẳng còn,

Quan Hậu Lê Sỹ theo đồn tan hoang.

Thương quan Tham tán Lâm Hoàng,

Tuẫn theo quốc nạn, sử vàng còn ghi.

Kể sao xiết nỗi sầu bi,

Chẳng qua súng Việt không bì súng Tây.

Cúi xin tàu rõ điều này,

Để chờ chước lạ mưu hay được nhờ.

Nghe qua triều nội sững sờ,

Thuận An thất thủ bây giờ hết mong.

Nhân dân ai nấy đau lòng,

Cảm thương quân sĩ oan vong tử nàn.

Phố phường dậy tiếng khóc than,

Bỗng quan Tiễu với quân tàn kéo lên.

Ngài vào trình tấu trước đền,

Đầu đuôi tâu hết căn nguyên tình hình:

“Cúi đầu trăm lạy Thánh minh,

Tôi xin thọ tội trói mình làm gương.

Thiếu phương lược, khó chống đương,

Hổ anh làm tướng, không đường thành công.

Thuyền bè cầu nổi cũng không,

Nên khi thuỷ chiến khó lòng điều binh.

Binh gia không luận bại thành,

Để cho mất cửa Thuận, tội mình khó tha.

Cúi xin lượng Thánh hải hà,

Hai đường tha giết, giết tha cam lòng.

May ra lượng Thánh khoan dung,

Tôi xin đái tội lập công đền bồi.

Ngày thì gánh gạch, gánh vôi,

Đêm thời gánh đất bổ bồi cho xong.

Thuận An ta giữ không xong,

Thì ta tính chuyện đề phòng tương lai.

Phải xây lại một hải đài,

Ngang vùng Thanh Phước, Quy Lai đề phòng.

Lo toan tập luyện binh ròng,

Rồi dây e nó tiến công kinh thành”.

Nội triều tứ trụ, lục khanh,

Nghe tâu ai cũng lạnh mình băn khoăn.

Quan văn chỉ biết thi văn,

Rồng bay, phượng múa, hoa chằn, gấm thêu.

Vua thì Thang, Võ, Thuấn, Nghiêu,

Tôi thì Y Lữ, Tào Tiêu, Ngụy Hàn,…

Nay nghe thất thủ Thuận An,

Mặt mày xanh xám, ruột gan rối bời!

Ngồi trơ lặng tiếng im hơi,

Dám đem ngòi viết thay lời binh quan.

Tân quân khi ấy phán ra,

Phê quan Trần Thúc nghị hoà cho xong.

Ban cho một chiếc thuyền bồng,

Trạo phu thuỷ bộ hộ tùng ra đi.

Quan Trần bái biệt đơn trì ,

Trở về bộ phủ cáo tri mấy lời.

Quan Trần về bộ vừa ngồi,

Hỏi: “Bà mày có nghe thời chi không?

Nay tôi vâng mệnh Cửu trùng,

Thuận An về đó hoà cùng với Tây”.

Quan bà nghe nói hồn bay:

“Giặc vừa chiếm cửa, ông rày phải đi.

Làm tôi không ngại gian nguy,

Thế này, đi có can gì hay không?”.

“Bà mày nói chuyện viễn vông,

Làm tôi chỉ một chữ trung cho bền.

Cơm vua, nợ nước lo đền,

Dầu cho đốt pháo, xông tên cũng đành!

Nước nhà đang lúc điêu linh,

Dẫu mà thập tử nhất sinh chi nài.

Bà lo coi ngó trong ngoài,

Để tôi tròn phận khâm sai giảng hoà”.

Vài lời căn dặn bước ra,

Lệnh truyền: thuỷ thủ, quân nha lên đàng.

Quan bà trong dạ bàng hoàng,

Vài lời tiễn biệt hai hàng châu rơi:

“Tôi xin khấn đất cầu trời,

Sóng êm bể lặng, ông thời thành công”.

Ngập ngừng miệng nói đưa chồng,

Mà gan khô héo, mà lòng sầu bi.

Thấy chồng phụng chiếu ra đi,

Tâm linh báo trước chuyện gì chẳng vui.

Nghe bà tiễn biệt mấy lời,

Lòng ông cũng thấy ngậm ngùi triền miên.

Nhưng ông vội vã lệnh truyền,

Tuỳ quân hoả tốc xuống thuyền ruổi rong.

Giờ Thìn bước xuống thuyền bồng,

Cứ theo thuỷ đạo chèo giong giữa vời.

Ra đi nước thuận, gió xuôi,

Từ thìn tới ngọ đến nơi Trài, Hà.

Trông từ Trấn Hải trông ra,

Bao nhiêu đồn luỹ thảy đà nát tan.

Kinh thành nhờ cửa Thuận An,

Để cho mành, gọ, tàu đoàn thông thương.

Đông tây nam bắc mười phương,

Thuế sưu sản vật tải thường vô đây.

Kinh đô nhờ một cửa này,

Trời sao lại để cho Tây chiếm rồi!

“Tôi nay là phận làm tôi,

Mạng vua truyền xuống, vậy thời khổ thay!

Xem ra cơ cuộc dường này,

Dẫu mình tận trách khó xoay tình hình.

Họ đà quyết kế hưng binh,

Dầu cho nói gãy lưỡi mình (cũng) khó xuôi.

Thôi thì một thác cho rồi,

Lòng này phó có bể trời bao la!

Tội gì quỵ luỵ cầu hoà,

Trước kia Tiên đế vốn đà hoà thân.

Tưởng cùng hoà hiếu giao lân,

Nào ngờ phản trắc xua quân thị thường.

Man tâm lộ liễu đã chường,

Là phường bội bạc, là phường gian manh!

Nay ta phụng chiếu bất thành,

Về không thì chắc triều đình không dung.

Giữa vời trời nước mênh mông,

Cúi xin bái biệt cửu trùng từ đây!”.

Tuỳ quân không dám trễ chầy”,

Hoang mang phi báo lên rày Huế kinh.

Sau khi nghe sứ tâu trình,

Tân quân phán dậy rộng tình chiêu dung.

Theo điều phạt tội, thưởng công,

Lẽ ra bắt tội kém lòng trung can.

Đang hồi quốc sự đa đoan,

Phải lo chung sức tính toan đắp bồi.

Ai dè muốn tránh nợ đời,

Để phần việc nước rối bời cho ai?

Tân quân phán trước kim giai.

“Bây giờ trẫm biết nhờ ai đi hoà ?”

Quan Quận quỳ gối tâu qua:

“Tôi xin tình nguyện xông pha chuyến này”.

Tân quân trong dạ mừng thay,

Liền cầm ngự bút phê ngay tức thì.

Quan Quận vâng mạng một khi,

Từ Kinh xuống cửa, chèo đi nửa ngày.

Đến nơi xin yết kiến ngay,

Mở ra hoà hội cùng Tây nghị hoà.

Lang sa hỏi chuyện giăng ca,

“Sao không đánh nữa, lại hoà làm chi?”.

Quan Quận thưa lại làm ri:

“Trước thưa chủ suý, sau thì các quan,

Ngày nay đồn nát luỹ tan,

Là vì quan Tiễu nông gan chống trời.

Qua đây, Pháp đã tỏ lời,

Chỉ lo buôn bán nộp thời thuế quan.

Ít ai ở được chu toàn,

Lấy câu thân thiện cho toàn thuỷ chung.

Nước nào chẳng có anh hùng,

Có người lương thiện, dũng trung, hiền hoà”.

Quan một cho chí quan ba,

Nghe quan Quận nói, bật ra tiếng cười!

Tây bèn hỏi lại một lời:

“Đây là quan Quận nói chơi chăng là ?

Nam bang mà có Tây qua,

Vì chưng Tiên đế giao hoà thông thương.

Vừa rồi xảy chuyện tranh đường,

Thì phần trách nhiệm ai đương phen này?

Nghe qua quan Quận buồn thay:

“Quý quan nói vậy, tôi nay nghẹn lời,

Tôi về tâu với chúa tôi,

Để ngài phán định những lời cao sâu”.

Về trào đặt gối quỳ tâu,

Tâu cùng Chúa thượng đuôi đầu phân minh:

Những lời người Pháp thuyết trình,

Thấy toàn chứa những bất bình thốt ra.

Nay mong yên việc nước nhà,

Nên nhờ Giám mục nghị hoà giao ngôn.

Họ là người giữ phần hồn,

Ắt là lời lẽ ngọt ngon hợp thời.

Đã sinh ra dưới gầm trời,

Dẫu lương dẫu giáo, đều thời thần dân.

Nên nhờ họ xuống phân trần,

Chắc là người Pháp có phần nể nang.

Tân quân nghe tấu rõ ràng,

Nghĩ buồn việc nước bẽ bàng vậy thay!

Bây giờ đã đến nỗi này,

Nước chỉ  phải chịu, kẻo rày khổ dân.

Phán cùng văn võ đình thần,

Đến Toà Giám mục phân trần cạn sâu.

Thế là quan Quận dẫn đầu,

Các quan phái bộ đi sau truy tuỳ.

Qua đò Kẻ Vạn một khi,

Các quan bách bộ liền thì đến nơi.

Đức cha chân bước miệng cười:

“Mừng thay quý vị sang chơi thảo đường,

Thăm chơi hay có chủ trương,

quan xin cứ tỏ tường cho nghe!”.

Các quan ai nấy chẳng dè,

Đức cha đã rõ còn che giấu gì:

“Chúng tôi vâng lệnh Đan trì,

Qua nhờ Giám mục giải nguy với cùng.

Trong triều có kẻ thị hùng,

Gây ra chuyện đánh trống xong bỏ đùi.

Nội trào can gián hết lời,

Họ không tự lượng, coi trời bằng vung.

Khoe khoang thao lược anh hùng,

Để thành Trấn Hải khi không điêu tàn.

Làm cho mất cửa Thuận An,

Luỹ đồn tan nát, quân quan hao mòn.

Họ thường khoe giỏi, khoe khôn,

Thật ra hoà ước mực còn chưa khô.

Kết giao hỗ trợ, tương phò,

Hiệp minh lưỡng quốc, tiền đồ còn xa.

Bây giờ Tiên đế thăng hà,

Xin vào điếu lễ vì là không cho.

Vì quan Tiễu chẳng cho vô,

Làm cho chuyện nhỏ thành to mới rầy.

Xảy ra cơ sự dường này,

Nay ta đấu lí với Tây không rồi.

Đức cha nghe nói liền cười,

Các quan thấy vậy lòng thời được yên.

Thưa rằng: “Quốc vận đảo điên,

Xin cha gắng sức cho yên việc này!”.

Cha nghe, chấp nhận lời ngay,

Lãnh về cửa Thuận cùng Tây luận bàn.

Đức cha nhận lời các quan,

Là nhờ quan Quận tính toan sắp bày.

Nói mà yên được việc này,

Thì công quan Quận to thay để đời.

Đến nơi, Tây rót rượu mời,

Hội đồng nghị sự lời lời đổi trao.

Đức cha nói chuyện thao thao,

Rằng: “Tôi từ đặt chân vào nước Nam,

Bao nhiêu lợi lộc chẳng tham,

Chỉ chăm truyền đạo việc làm thắng ngay.

Bây giờ tham dự việc này,

Bề nào cũng nói với Tây thông đồng.

Thuận An là Trấn Hải phòng,

Nay mà thất thủ xui lòng xót xa.

Lòng tôi đâu phải tây tà

Đã thay mặt Chúa nói ra công bình.

Xuống đây không phải vì tình,

Bên kia Nam quốc, bên này Lang sa.

Đình chùa miếu vũ người ta,

Giao tranh một buổi, thảy đà nát tan!

Quan quân lây đến dân gian,

Kẹt đường khốn chạy hàm oan cuộc này.

Hãy xin xét thấu lời ngay,

Đừng cho rằng, xuống bàn đây vì tình.

Tôi đây một mực công minh,

Dẫu ai gặp đạn vô tình bị thương.

Bất kì là giáo hay lương,

Tôi truyền bổn đạo mọi đường chữa chuyên.

Dầu là Quảng Trị, Thừa Thiên,

Ngãi, Nam, Bình Định chu tuyền bất phân.

Nơi xa cho chí nơi gần,

Chiến chinh là chuyện muôn dân tai nàn.

Thắng thì công trạng vẻ vang,

Bại thì quân sĩ tồi tàn tấm thân.

Thương cho số phận quân dân,

Cung tên lưới đạn muôn phần khổ thay!

Sau khi dứt trận mấy ngày,

Quan Quận cũng đã xuống đây cầu hoà.

Bây giờ xin khá phôi pha,

Dẹp bên cừu địch giao hoà cho xong”.

Lời cha nghị luận quá thông,

Làm cho người Pháp đều cùng cười ha:

“Chúng tôi xin nhận lời cha,

Nếu sau trắc trở vậy mà hãy hay”.

Vui cười từ biệt bắt tay,

Cha cùng phái bộ về ngay thánh đường.

Than ôi, thảm thiết chiến trường,

Vì chưng ngã nhược nhĩ cường cách xa!

Sau khi giao ước giảng hoà,

Từng đoàn lũ lượt trẻ già gái trai:

Kẻ thì thuê mướn thuyền chài,

Để mò tìm những hình hài thân thi.

Người thì bước bộ sầu bị,

Con đi tìm bố, vợ đi tìm chồng!

Cháu tìm chú, bác tìm ông,

Anh em ruột thịt khóc ròng tìm nhau!

Chín chiều ruột thắt quặn đau,

Nhang tàn một nén đốt cầu hồn hoa.

Làm trai vì nợ nước nhà,

Sống khôn, khi thác ắt là linh thiêng.

Hoặc là sấp, hoặc là nghiêng,

Hiển cho biết, kẻo lòng riêng đau buồn!

Khấn rồi lụy ngọc nhỏ tuôn,

Có người khóc ngất, xỉu luôn hàng giờ.

Người thì chết bụi chết bờ,

Người thì chết nước dật dờ phiêu linh.

Ba ngày hết kị nổi sinh,

Sống dồi gió dập bồng bềnh, thương ôi!

Chao ôi, thảm cảnh lạ đời,

Dân Nam nhỏ bé sao trời không thương?

Nước Nam nhỏ bé một phương,

Sao trời dung túng cho phường cường hung?

Hại người mất vợ, mất chồng,

Mất cha, mất mẹ, chịu vòng lầm than.

Một vùng cẩm tú giang san,

Một nền văn hiến bốn ngàn năm dư.

Rành rành trong sách thiên thư,

Tiệt nhiên định phận, thì trừ lũ tham.

Làm chỉ cho khổ dân Nam,

Vì ai ham lợi mà cam khom mình.

Cam tâm mại quốc cầu vinh,

Gian tà, nịnh tặc bia danh muôn đời.

Sống tuy vinh hiển nhất thời,

Tránh sao cho khỏi lưới trời tuy thưa.

Đoạn trường thảm khổ cho chưa,

Tây còn đầy đoạ giày bừa thêm kinh.

Trách thay trong chốn triều đình,

Sao mà ngơ mắt vô tình cho đang!

Đáng ra sức hạ các làng,

Lo bề an táng cho hàng thương vong.

Triều đình há chẳng mủi lòng,

Đem lo những chuyện bao đồng chi đâu.

Mặc ai thảm khổ, xót đau,

Mặc cho người chết ngậm sầu oan vong.

Để thây khắp phá, đầy đồng,

Để cho Tây bắt công không dân mình.

Nó đã đánh giết dân lành,

Bây giờ nó lại bắt mình chôn thây.

Phải đi chôn xác với Tây,

Mồ hôi nước mắt chảy ngày như đêm.

Việc trong nhà nước tuy êm,

Nghĩ mình binh bại chịu mềm mà đau.

Ngày thì lủa tợ như trâu,

Đụng đấu đánh đó, u đầu sưng chân.

Nghĩ thân mà tủi cho thân,

Ban đêm thì lại ngủ trần giữa sương.

Bữa ăn bữa uống thất thường,

Gạo lương phát với muối trường thảm không!

Cũng ăn cho khỏi đói lòng,

Và lo chôn cất kéo trông loã lồ.

Bao nhiêu những giống với hồ,

Kéo thây bỏ xuống, làm mồ tập trung.

Giếng hồ thành những mồ chung:

Lương dẫn vô tội, anh hùng vô danh!

Mới hay công cuộc nước mình,

Đều nhờ quan Quận điều đình một tay.

Giao hoà hiệp ước với Tây,

Lên kinh xuống cửa, hàng ngày thông thương.

Một toà Khâm sứ đường đường,

Chiếu vào mặt nước sông Hương chập chờn.

Thế là thổ võ giang sơn,

Cỏ hoa phải trải qua cơn gió lùa.

Sự đời mạnh được yếu thua,

Khâm sai Đại Pháp coi vua ra gì.

Việc trào thì lại càng nguy,

Tranh quyền ỷ thế triều quy tan tành!

Tha hồ hai gã hoành hành,

Vua thì hư vị chỉ khoanh tay ngồi.

Triều quan ai dám hở môi,

Đành nhìn Tổ quốc lần hồi nguy nan.

BK:

Năm Mùi thời khí bất an,

Hiệu trời phướn đỏ, rìa vàng, tán xanh.

Ngó vô Nam Việt nước mình,

Cái việc triều đình khuy khuyết thậm đa

Phần thì Tây qua lấn lướt nước nhà,

Phần thì Ngọc hoàng xuống rước vua ta về trời.

Thánh hoàng di chúc trị ngôi,

Ngài thời vô tử, ngài thời dụng tôn.

Sách có chữ: vô tử dụng tôn,

Lấy câu miêu duệ tử tôn lưu toàn.

Thánh hoàng di chúc đã an,

Phán cùng văn võ bá quan một lời:

Ngày nay lá rụng cành rơi,

Cứ câu lễ lệ việc đời mà phân.

Đạo quân thần chớ vong ân,

Hoàng thiên hữu nhãn mười phần xét soi.

Thánh hoàng di chúc đã rồi,

Đằng vân giá vũ về trời một khi,

Bá quan hiệp diện đơn trì,

Hai hàng châu lụy phân li ròng ròng!

Can qua tả đột hữu xung,

Nam Quan, Bắc Lạng đã không ra gì.

Ta hồ thánh đế ai bì,

Quân thần phụ tử, vậy thì nghĩa trung.

Bá quan bái mạng đền rồng,

Sanh an tử thuận, lo trong nước nhà.

Bá quan bái xá lui ra,

Hiệp diện chương toà, phụng sắc kí phong.

Bá quan văn võ hội đồng,

Soạn sành nghi giá, đặng hòng rước ngôi.

Sấm kí để lại đã rồi,

Triều đình văn võ vậy thời dự tri.

Ngày mai hiệp diện đơn trì,

Văn danh thiên hạ vậy thì được hay.

Trị ngôi mới được ba ngày,

Xung lăng đột khuyết, mới hay sự tình.

Lập lường bố trận bài binh,

Mới hay sự tình tịch cốc chung thân.

Bá quan văn võ đình thần,

Ai ai đều cũng phân vân việc đời.

Khó thay bẻ nạng chống trời,

Nói ra thì được, sợ thời tội hung.

Đáo để cho ông Phan Đình Phùng,

Nói lời trung nghĩa, mắc vòng gian nan

Triều đình văn võ bá quan,

Ai ai cũng muốn cho toàn thân danh.

Mặc lòng hai gã quyền hành,

Muốn cho ai bại ai thành thì cho.

Triều đình nói nhỏ nói to,

Lai hàng giữ một chữ phò mà thôi.

Ba ngang một sổ hẳn rồi,

Ai thêm chữ bạch thành noi chữ hoàng.

Tưởng là một số ba ngang,

Thành noi chữ hoàng là số thiên cơ.

Các động cẩn mật đến giờ,

Mã thượng phi đệ, tín thư thông hành.

Nhộn nhàng khác thể rồng đoanh,

Tỏ tưởng mới biết trạch danh trí tài.

Chữ lương chữ nguyệt đứng bên vai,

Trạch danh trí tài thay vị thế ngôi.

Lập cân nay đã hẳn rồi,

Triều đình văn võ vậy thời định an

Căn duyên cơ nghiệp chu toàn,

Mặc lòng hai gã sửa sang nước nhà.

Thánh hoàng ngài mới băng hà,

Những tham với cách vậy mà tứ tung.

Tân triều khi ấy hãi hùng,

Vang danh thiên hạ ai cùng đều nghe.

Bốn bề thiên hạ đều ghê,

Quyền hào hai gã đủ bề lợi danh.

Coi trong việc nước đã thành,

Nhộn nhàng binh mã, xưng danh tướng thần.

Ngài đà giá vũ đằng vân,

Bá quan triều thần lo việc táng chung.

Tân triều khi ấy hội đồng,

Tư ra các tỉnh, vậy cùng trị tang.

Tư về phủ huyện, các làng,

Tú tài, bá hộ thọ tang trăm ngày.

Bộ lễ lại giở sách rày,

Văn công lễ lệ cấm nay thiệt nhiều.

Cấm trong xanh, tím, đỏ, điều,

Huỳnh, hồng, lam, sắc màu đều cấm đi.

Nội triều: bạch giáp, bạch y.

Ai mà phi lệ, vậy thì tội hung.

Tư ra các tỉnh cấm đồng,,

Thuấn thiều, Vũ nhạc, vậy cùng cấm đi.

Tế thần, quảy thánh một khi.

Quan, hôn, tang, tế, vậy thì lặng tanh.

Bao giờ tang chế sự thành,

Mặc lòng thiên hạ thiết nghênh hằng hà

Tang nghi đủ thứ bày ra,

Lâu đài các cửa, vậy mà nghiêm trang.

Cung Môn, Cần Chánh, Tiên Đàn,

Tả Vu, Đông Các, ngó sang Nhật Thành.

Văn Minh, Võ Hiển lầu xanh,

Cao Minh, Càn Thành, ngó tới Cung Môn.

Địa đồ khéo dọn, khéo dồn,

Thái Hoà ngó tới Ngọ Môn chín lầu.

Ngọ Mỗn năm cửa, chín lầu,

Trụ cờ tam cấp, Phu Văn Lâu ngoài thành.

Lâu đài các cửa xây quanh,

Ngó vô nội thành, tả hữu miếu xinh,

Phụng Tiên, Gia Thọ, Trường Ninh,

Khâm Văn, Thưởng Thắng, Hoà Bình, Kiều Gia.

Tang nghi đủ thứ bày ra,

Hãy còn một nỗi quân gia chầu hầu:

Nội cung thái giám đứng đầu,

Cẩm y, Loan giá chầu hầu tại ngai.

Kỉnh tất, Hộ vệ đứng ngoài,

Thượng trà, Võ bị liệt bài nghiêm trang.

Hoà thanh, Túc vệ, Ngô Tràng,

Chầu hầu thánh đế nghiêm trang thay là.

Tang nghi đủ thứ bày ra,

Tế Thông, Kim Đĩnh, với mà Tường Long.

Chầu hầu thuỷ bộ ròng ròng,

Long châu cự hải song song hai hàng.

Đủ mặt văn võ bá quan,

Tang nghi thiết lập, trị tang hết lòng.

Đạo trời ở cho hết lòng,

Bộ lễ, Khâm giám hội đồng trạch ngay.

Nguyệt Tiên, Thiên Đức  mới hay,

Hai mươi tháng tám được ngày táng chung.

Tân triều khi ấy hội đồng,

Ai ai đều cũng táng chung sự hoàn.

Tưởng là nhà nước đã an,

Chẳng hay Tây lại trong Hàn một khi.

Tỉnh quan tả sớ tức thì,

Mã thượng phi đệ, vậy thì thông tin.

Bộ quan chẳng dám điềm nhiên,

Tựu tại dinh tiền, khi ấy tâu qua:

“Tàu Tây tám chiếc Sơn Chà,

Hẳn như mật sớ, tâu qua Cửu trùng”.

Thánh hoàng phán hỏi triều trung:

“Tây phiên sứ sự, lệ dùng vật chi?”.

Bá qua  tâu trước đơn trì:

Hoàng ngưu, kê noãn, vậy thì tiếp nghênh;

Tây phiên dùng thực vật sinh,

Tâu qua thánh thánh đế phân minh rõ ràng.

Thánh hoàng phán trước ngai vàng,

Đình thần kí tấu rõ ràng đục trong.

Mới hay ngôn ngữ bất đồng,

Nước thời khác nước, nhìn ròng mà thôi!

Kể từ năm Ngọ kể lui,

Mực sa xuống giấy, dễ chùi mực ra.

Tiên triều trước có giao hoà,

Cho nên Tây chiếm hãm Gia Định thành.

Chiếm rồi họ lại sự sanh,

Chiếm Gia Định thành, nhà nước suy vi.

Thánh hoàng phán trước đơn trì,

Khuyến triều hỉ lạc vậy thì hân hoan.

Miễn là mai táng sự hoàn,

Sanh an tử thuận cho an nước nhà.

Bữa rằm tàu đậu Sơn Chà,

Bước qua mười sáu, Tây ra Hải thành.

Tàu ra thời ấy bình minh,

Nó đòi vô cửa, quan Tiễu mình không cho.

Tây phiên dụng chước mưu đồ,

Trước xin thọ chế, sau phò Nam vương.

Trước thời thọ chế thánh vương,

Sau thời thương thuyết cái đường quốc gia.

Quan Tiễu khi ấy truyền ra,

Vọng lâu cờ kéo vậy mà không tin.

Nội chư đồn luỹ giữ gìn,

Tam tài cờ kéo không tin, phải phòng.

Sai người đệ bức thư phong:

“Tâu cùng thánh đế với cùng bá quan:

Tây phiên đã tới Thuận An,

Hoả tàu tám chiếc, tợ ngàn thiên binh.

Thưa quan văn võ triều đình,

Nguyện xin hiệp chiến giao chinh thi tài.

Làm chị rày vãng mai lai,

Bày ra yến ẩm tốn hoài của vua”.

Quan Tiễu phân binh hai tua,

Đạo tiền đóng tự vùng chùa hoàng cung.

Luỹ tả luỹ hữu đạo trung,

Hãy còn đạo hậu đóng trong Hải đài.

Ngài truyền súng vác, cờ đai,

Quan Tiễu khi ấy liệu bài can qua.

Cũng đều bố trận can qua,

Quan Tiễu trở lại đồn Hoà một khi.

Ngài qua đò của một khi,

Truyền quân cơm nước vậy thì nghỉ ngơi.

Tưởng là nói rứa mà chơi,

Ai hay nó ở ngoài vời bắn vô.

Thiên binh vạn mã hải hồ,

Đều nghe tiếng súng bắn vô rộn ràng.

Đò dọc cho chí đò ngang,

Đều nghe súng bắn, tìm đàng lánh thân.

Hai bên phố xá, xóm phường,

Đều nghe tiếng súng, tìm đường chạy xa.

Phen ni bỏ của bỏ nhà,

Dắt con cùng vợ chạy ra tức thì.

Dắt con cùng vợ chạy đi,

Kẻ qua Vĩnh Trị, người thì lên Dnh.

Lao xao thiên hạ vô tình,

Phen ni mới biết, thất kinh nhưng là.

Rộn ràng kẻ khóc người la,

Phen ni cũng bởi vậy mà giặc Tây.

Bắn hôm mười sáu nửa ngày,

Từ trưa đến tối, súng rày lặng tanh.

Trên thành khiển tướng, điều binh,

Bước qua mười bảy, giao chinh đì đùng.

Quân mình tả đột hữu xung,

Quan sai quân bắn, bắn không trúng gì.

Khói lên hình tợ long phi,

Đạn ra ngoài biển, trúng gì chẳng hay.

Tây bắn vô, người lọi chân, kẻ lọi tay,

Bể đầu, lủng ruột, khổ này dân ta!

Sở lên tâu gấp chương toà:

“Tâu cùng thánh đế, vậy mà bá quan:

Cho quân hậu tiếp hai ngàn,

Lựa người võ cử, am nhàn mời đi”.

Thánh hoàng hạ bút một khi,

Ngài phê quan Tướng ra đi Hải thành.

Lựa người giáo dưỡng, anh danh,

Võ cử tuỳ phái, hậu hành rất đông.

Ra tài tả đột hữu xung,

Nhất sanh nhất tử kéo công theo thầy.

Phen này quyết đánh cùng Tây,

Thuận An thất thủ, trời rày hại ta.

Nửa đêm giờ tí canh ba,

Truyền quân mở cửa Đông Ba tức thì.

Nửa đêm giờ tí kéo đi,

Ngài xuống phố Lỡ, ngài thì trở lui.

Sớ lên tâu gấp tức thời:

“Tướng quân lâm bệnh, ngài hồi bổn dinh,

Cờ lệnh nộp lại giao đình”.

Bá quan văn võ làm thinh nhưng là.

Ai mà bày tội lệ ra,

Những tham với cách giao qua Bộ hình.

Việc triều lại ở không minh,

Cường ngôn nghịch lí niết tình mà thôi.

Bữa hôm mười bảy tối trời

Gió bay mây tụ, quân thời ngủ ngon.

Canh năm trống điểm lầu son,

Truyền quân cơm nước, gạo còn đương bo.

Gió tây thổi xuống vo vo,

Phần thời sóng vỗ cái to bằng nhà.

Ước chừng làm chỗ phong ba,

Lạy trời phù hộ nước nhà một khi.

Quan quân lao khổ làm ri,

Ngày thì dãi nắng, đêm thì dầm sương.

Quan quân lao khổ trăm đường,

Lạy trời phù hộ thánh vương Nam trào!

Ai ngờ Tây nó đánh trận xà bao

Nhắm chừng Cửa Lấp nước vào, nhảy vô.

Thiên binh vạn mã hải hồ,

Hắn lên phân toán, hắn hô bắn liền!

Bắn thì phát thẳng, phát xiên,

Nội quân đạo tiền chết hết một khi.

Hai ngàn lính Quảng Trà My,

Cũng đều chết hết, còn gì nữa đâu!

Người nhảy ra phá ngập đầu,

Người chết nằm sấp dãi dầu mà kinh.

Giờ mẹo nó đã giao chinh,

Hai bên thiên hạ thất kinh nhưng là.

Tưng bừng người khóc kẻ la,

Kêu trời van đất, khói ra bịt bùng.

Súng Tây nó bắn đì đùng,

Kho tàng cũng trúc, dừa cùng gãy tan.

Quan quân chẳng biết mấy ngàn,

Trời đà phù hộ cho đoàn lâu la.

Quan Tiễu trở lại đồn Hoà,

Kêu trời ba tiếng, trời mà thấu không?

Nam triều cái cửa hải phòng,

Tây thành chiếm hãm, khổ trong đạo trời!

Hai hàng nước mắt tuôn rơi,

Ai xui Tây tặc hại người trung lương.

Xa vời khốn tính, khốn đương,

Đem quân hậu tiến, khó đường mở vây.

Hai hàng nước mắt chảy ngay,

Truyền quân khí giới bây rày kéo đi.

Sớ lên tâu gấp một khi:

“Tâu cùng thánh đế với thì bá quan:

Tây phiên đã lấy Thuận An,

Quân thời chết hết mà quan chẳng chừa.

Bốn bề súng bắn như mưa,

Oai thương cường hãm, chẳng chừa chi ai.

Quan Hữu tử tại đồn Đài,

Quan Lâm ở ngoài, tự vẫn ngài đi,

Quan quân chết hết liên bì,

Triều đình văn võ mưu chi quân nhờ!”.

Triều đình nghe nói ngẩn ngơ,

Thuận An thất thủ bây giờ khốn trông.

Thiên hạ ai cũng đau lòng,

Thương thay binh tướng mắc vòng gian nan!

Bốn bề thiên hạ than van,

Bỗng đâu quan Tiểu băng ngàn kéo lên.

Ngài vô thọ tội trong đền,

Tâu đức hoàng thượng căn duyên sự tình:

“Cúi đầu lạy trước triều đình,

Tôi xin trói mình thọ tội thánh vương!

Xa vời khốn tính, khốn đương,

Hổ thân chiến sĩ không đường lập công.

Đò ngang cầu nổi cũng không,

Oai thương đoạt kẻ anh hùng tài danh.

Tội tôi tôi chịu đã đành,

Trăm lạy triều đình nhất thứ miễn dung.

Tôi xin vâng lệnh cửu trùng,

Nội chư đồn luỹ gắng công bổ bồi.

Ngày thời xây gạch, gánh vôi,

Đêm thời gánh đất, bổ bồi cho xong.

Bua quan khí giới phải phòng,

Thuận An thất thủ, khổ trong nước nhà”.

Bưa vừa hạ sắc phê ra,

Phê quan Trần Thúc xuống hoà cho xong.

Ban cho một chiếc thuyền bồng,

Thuỷ thủ một thập vậy cùng ra đi.

Quan Trần về bộ một khi:

“Bà mày ơi, bà mày hỡi, có nghe thì chi không?

Tôi nay vâng lệnh cửu trùng,

Nhảy xuống thuyền bồng, hoà hợp cùng Tây”.

Bà lão nước mắt chảy ngay:

“Giặc kia mới đánh, ông đi rày can chi không?”.

“Bà đừng nói việc thiên thông,

Tôi xuống thuyền bồng, lính thuỷ mười tên.

Cơm vua nợ nước phải đền,

Ví dù giặc đánh một bên cũng liều mình.

Làm người lánh chỗ giao chinh,

Làm quan triều đình mà nói nổi ai?

Bà mày coi trong ngó ngoài,

Trầu phong thuốc điếu  vào đai sẵn sàng.

Linh được hốt lấy vài thang,

Để khi nhiệt hàn, lấy nó trị phong.

Những là liên tử, ô long,

Phải đem đi dọi để phòng hộ thân.

Nơi xa cho chí nơi gần,

Phòng khi hỉ lạc, oai ân nhưng là”.

Quan Trần khi ấy truyền ra:

Truyền quân điểm cổ vậy mà cho xong.

Giờ thìn nhảy xuống thuyền bồng,

Bước qua giờ tị, chèo giong giữa vời.

Truyền quân cơm nước nghỉ ngơi,

Qua đầu giờ ngọ, tới vời Thảo Long.

Hai hàng nước mắt ròng ròng,

Ngó xuống hải phòng, đồn luỹ nát tan.

Nam triều cái cửa Thuận An,

Tới khi mành gọ, tàu đoàn thông thương.

Đông tây nam bắc bốn phương,

Ngân sưu thuế lệ, tải thường về đây.

Thuận An cảnh thú vui vầy,

Trời đà phò hộ về Tây, hỡi trời!

Nguyện cùng thiên địa phá vời,

Nhất định một lời, nhảy xuống suối ba.

Tội gì y ước giao hoà,

Trung thần đã có người xa kẻ gần.

Tội gì y ước giao lân,

Tây phiên phản tặc giết thần hại binh.

Bây giờ tính lại đoạn tình,

Tôi xin liều mình chín suối diêm vương.

Mặc lòng thiên hạ lo lường,

Tây phiên phản tặc chẳng thương chi mình.

Nó mưu lấy nước hại binh,

Nó chẳng thương mình, nó lấy Thuận An”.

Giờ thìn có sớ băng ngàn,

Tâu đức hoàng thượng, bá quan triều đình.

Sớ lên tâu gấp triều đình,

Quan Trần tự ải, liều mình biệt li.

Thánh hoàng phán trước đơn trì:

“Nhà ngươi tự vẫn, ta thì thứ dung.

Lẽ ưng bắt tội bất trung,

Nam triều đang lúc rắn rồng đấu tranh.

Đủ mặt văn võ triều đình,

Nay mà phải xuống thân chinh giao hoà”.

Quan Quận đặt gối tâu qua,

Vâng lệnh thánh đế, giao hoà cùng Tây.

Trên Dinh xuống cửa nửa ngày,

Soạn sanh lễ vật, thiết ngay giao hoà.

Tây phiên hỏi việc giăng ca:

“Ngày xưa ai đánh, nay hoà làm chi?”.

Quan Quận thưa lại làm ri:

“Thưa cùng Đại Pháp với thì bá quan,

Bởi vậy đồn luỹ nát tan,

Vì chưng quan Tiễu lấy gan chống trời.

Pháp qua buôn bán mà thôi,

Ngân sưu, thuế lệ nợ đời còn mang.

Ít ai ở đặng chung toàn,

Lấy câu thương mãi cho hoàn thuỷ chung.

Nước nào chẳng có anh hùng,

Có người lương thiện thuỷ chung giao hoà”.

Quan một cho chí quan ba,

Nghe lời quan Quận a ha cười gằn.

Dịch nàng với lại Xu đăng:

“Can chi quan Quận đón ngăn nước nhà?

Nam Việt mà có Tây qua,

Vì lời tiên đế giao hoà thông thương.

Bởi vì các gã tranh cường,

Ra tài cự chiến oai thương phen này”.

Quan Quận nghe nói buồn thay:

“Thưa cùng Đại Pháp, tôi rày lui chân,

Ngu si không rõ tiếng đờn,

Giả như gió thổi không sờn tai trâu”.

Vào lầu, đặt gối quỳ tâu,

Tâu cùng thánh đế mấy câu rõ ràng:

“Mấy lời Tây tặc phiên bang,

Rằng nghe họ nói, lưỡng nan nước nhà”.

Đủ mặt văn võ chư nha,

Lập định mưu kế đáo toà thánh môn.

Thưa đức cha giám mục phần hồn,

Cậy ngài về cửa Thuận giao ngôn tận lời.

Giáo với lương cũng con trời,

Làm chi đáo để, khổ thời quân quan!

Kim thượng nước mắt chứa chan,

Vái cùng thượng đế ngọc hoàng cao xa.

Nghĩ trong cái việc nước nhà,

Thuận An thất thủ khổ mà muôn dân.

Cà kê chân bước dò lần,

Nói với giám mục tương phân thế nào.

Nói cùng quan Quận trong trào,

Bá quan đáo tới lầu cao thánh đường.

Đục trong phân tỏ mối giường,

Lựa lời hơn thiệt, náu nương theo lời.

Thuận An cảnh thú ăn chơi,

Nay mà thất thủ là trời khiến suy.

Qua đò Kẻ Vạn một khi,

Dò lần chân bước, vậy thì tới nơi.

Đức cha chân bước, miệng cười:

“Các quan hà sự, thăm tôi việc gì?

Do hà cần kíp việc chi,

Các quan nói thiệt, vậy thì tôi nghe”.

“Ai hay một nỗi trời đề,

Đám mây cơ hội mà đè đứt chân.

Rày xưa, một chớ hai đừng,

Không nghe mà đánh, quan quân điêu tàn.

Nay mà thất thủ Thuận An,

Quan quân điêu tàn, khốn nỗi thông thương.

Bởi vì các gã tranh cường,

Không nghe lời trước tiên vương giao hoà.

Nước Nam mà có Tây qua,

Tiên vương giao trọn kết, kí qua trọn đời.

Chẳng may tiên đế về trời,

Tây xin thọ chế, sao thời không cho?

Nhân tâm mạc trắc khốn dò,

Bởi vì quan Tiễu không cho mới rầy!

Chừ ra cơ sự dường này,

Quá đa lưỡng khẩu, nói với Tây không rồi”.

Đức cha nghe nói liền cười,

Cười rồi lại nhận mấy lời bá quan.

Các con bổn đạo nghe toàn,

Tam tài xà lúp, xuống Thuận An Tây thuyền.

Việc này cha nói mới yên,

Đi xuống Tây thuyền nói với Lang sa.

Vui mừng, cười nói ha ha,

Vẳng nghe quan Quận giao hoà răng đây.

Đức cha phân rõ cho hay,

Tà tâm bất chính thêm thay nực cười.

Áp xanh, rượu chát liền mời,

Hội đồng nghị sự, tính thời làm sao.

“Tôi qua giảng đạo Nam trào,

Lập bàn thờ Chúa mấy trào vương nay.

Chừ ra cơ sự làm vầy,

Bề nào cũng nói đạo với Tây một lòng.

Thuận An Nam Việt hải phòng,

Nay mà thất thủ, trong lòng tôi cũng xót xa.

Lòng tôi chẳng phải tây tà,

Bên nào tôi cũng nói ra công bình.

Tôi xuống đây không phải vị tình,

Trước thời Đại Pháp, sau mình Lang sa.

Đình chùa miếu vũ người ta,

Giao chinh một buổi vậy mà tan hoang.

Bốn bề thiên hạ quân quan,

Kẹt đường khốn chạy, hàm oan phen này.

Ta nay phải xét lời ngay,

Không phải đi xuống nói đây vị tình.

Lâm thương bị đạn tới mình,

Tôi truyền bổn đạo tận tình thuốc thang.

Những người Bình Định, Quảng Nam,

Thừa Thiên, Quảng Trị rộn ràng cháo cơm.

Thắng thời vinh hiển bá quan,

Bại thời phận lính tồi tàn tấm thân.

Thương thay phận lính, phận dân,

Xông tên lướt đạn mười phần khổ thay!”.

“Ngày xưa mưu kế ai bày,

Họ sai quan Quận xuống đây giao hoà.

Nghe lời thọ phép đức cha,

Ngày sau nghịch mạng vậy mà hại thay”.

Vui mừng đều cùng bắt tay,

Thưa cùng các gã thăng ngay thánh toà.

Phen này người khóc kẻ la,

Con nít, trẻ già ai cũng đều lo.

Cách vời thì phải đi đò,

Người thời đi bộ tìm cho khắp toàn.

Rưng rưng nước mắt hai hàng,

Thiếp đi tìm chàng, con lại tìm cha.

Lao xao người khóc kẻ la,

Chú bác tìm cháu, anh em mà tìm nhau.

Tình hình ruột lại quặn đau,

 

Nguyện xin đốt thẻ nhang cầu hồn hoa.

Sống thời trả nợ nước nhà,

Thác thời xiêu lạc thân ta chẳng toàn.

Trời cao soi xét dương gian,

Thương chi Tây tặc cả đoàn lâu la.

Hại người bỏ mẹ bỏ cha,

Bỏ con bỏ vợ, vậy mà sanh sơ.

Người chết bãi, kẻ chết bờ,

Người chết dưới nước, dật dờ lênh đênh!

Ba ngày hết kị lại sình,

Sóng dồi gió dập, lênh đênh một đời.

Hai hàng nước mắt tuôn rơi,

Kêu đất đất rộng, kêu trời trời cao,

Trách trong văn võ nội trào,

Làm sao quên nghĩ công lao dân tình.

Nó qua lấy nước, hại binh,

Nó lại bắt mình nhận việc chôn thây.

Phen này cực khổ với Tây,

Nước mắt giọt dài, ngày cũng như đêm.

Việc trong nhà nước đã êm.

Mình đã chịu mềm, Tây đánh nữa ư?

Ngày thời nó điệu như tù,

Đụng mô đánh nấy, nổi u nổi nần!

Ngùi ngùi thân lại tủi thân,

Ngày bắt đi mần, đêm bỏ thảm thương.

Bữa ăn bữa uống thất thường,

Một ngày một bát cơm lương muối vừng.

Lo ăn lo uống cho xong,

Ăn kẻo đói lòng, uống kẻo chết khô.

Bao nhiêu những giếng với hồ,

Kéo thây xuống dập, chỗ mô cũng đầy!

Phen này kẻ Việt người Tây,

Lên xuống sum vầy, buôn bán thông thương.

Quân quan lao khổ trăm đường,

Đêm ngày dãi nắng dầm sương võ vàng.

Nguồn:

– Bản chính từ VTTH, tr 151-184.

– BK từ Vè chống Pháp: Thất thủ kinh đô, Thất thủ Thuận An (1883 – 1885), Lương An (sưu tầm, chỉnh lí và giới thiệu), Nxb Thuận Hoá, Huế, 1983, tr 137- 168. Lương An dựa vào một số từ ngữ Pháp phát âm theo giọng bồi (xu đăng, áp xanh, xà lúp, xà bao,..) ở bài vè này, mà cho rằng Vè thất thủ Thuận An ra đời sau Vè thất thủ kinh đô, cùng thời gian với Vè xin thuế (sách đang dẫn, tr 19).

Tóm tắt:

Bài vè (bản chính) gồm 746 dòng thơ lục bát, có thể chia làm 6 đoạn:

  1. I) Từ dòng 1 đến dòng 172: Tình hình nội bộ triều đình trước khi Pháp đánh Thuận An: Tự Đức mất, Dục Đức ở ngôi ba ngày thì bị phế, Hiệp Hoà được đưa lên thay.
  2. II) Từ dòng 173 đến dòng 224: lễ tang vua Tự Đức.

III) Từ dòng 225 đến dòng 442: quân Pháp đến gây hấn rồi tấn công Thuận An. Quân ta anh dũng chống cự, nhưng vũ khí thô sơ nên thiệt hại nặng. Thuận An thất thủ.

  1. IV) Từ dòng 443 đến dòng 662: triều đình nghị hoà, sai Trần Thúc Nhẫn xuống thương thuyết, đến cửa Thuận, ông Trần thấy không thể hoà với Pháp được, nhảy xuống biển chết. Nguyễn Văn Tường đi thương thuyết cũng bất thành. Cuối cùng phải nhờ Giám mục Caspar (Cố Lộc) đi giúp.
  2. V) Từ dòng 663 đến dòng 730 nhân dân đi tìm người thân chết trong trận chiến. Pháp bắt dân đi chôn xác.
  3. VI) Từ dòng 731 đến dòng 746: Pháp đặt toà Khâm sứ. Triều đình chỉ còn hư vị.

Chú thích:

(1) Năm Mùi: năm Quý Mùi, 1883. Theo Đại Nam thực lục chính biên, tháng 8 năm Nhâm Ngọ, 1882, có một ngôi sao chổi xuất hiện “đuôi dưới đỏ trên trắng, dài như một tấm lụa”.

(2) Mặc thây: mặc xác, mặc kệ.

(3) Vua Tự Đức mất ngày 16 – 6 Quý Mùi (19-7-1883), làm vua được 36 năm.

(4) Đế hệ miên tràng: dòng dõi của nhà vua được nối tiếp dài lâu.

(5) Tự Đức nhận ba người cháu làm con nuôi, đó là Ưng Chân (con của ThoạiThái vương, Ưng Chân lên ngôi, hiệu Dục Đức, chỉ được ba ngày), Ưng Đường và Ưng Đăng (con của Kiên Thái vương – Ưng Đăng lên ngôi, hiệu Kiến Phúc; Ưng Đường lên ngôi hiệu Đồng Khánh),

(6) Di ngôn: lời dặn lại của người chết.

(7) Thần báo quân ân: kẻ bề tôi báo ơn vua; hoàng thiên hữu nhãn: ông trời có mắt.

(8) Cung trung: trong cung điện.

(9) Quốc thế: vận nước.

(10) Hoàng môn: chỉ các quan đại thần và đại diện hoàng tộc (nói chung).

(11) Tư văn bố cáo: gửi văn thư thông báo cho người, tổ chức liên quan được biết.

(12) Phụng liễn và loan xa đều chỉ xe của vua đi (kéo bằng sức người).

(13) Chỉ việc Dục Đức bị phế bỏ.

(14) Nguyên lai: chỗ xuất phát, lí do.

(15) Cung khuyết: cung cấm, chốn cơ mật; triều đàng: triều đình.

(16) Thật ra, vào ngày làm vua thứ ba của Dục Đức, tại buổi thiết triều có đông đủ hoàng thân và đình thần, Nguyễn Văn Tường đứng lên tuyên cáo

phế truất Dục Đức vì bốn tội: 1) Cắt bớt một đoạn trong di chiếu của vua cha; 2) Tự tiện đưa một giáo sĩ vào hoàng thành; 3) Mặc áo màu xanh trong khi để tang vua cha; và 4) Thông dâm với nhiều cung nữ của vua cha.

(17) Hai gã: chỉ Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết, hai đồng Phụ chính đại thần (cùng Phụ chính Trần Tiễn Thành), theo di chiếu của vua Tự Đức.

(18) Đình Phùng: tức Phan Đình Phùng (1847-1895), đỗ tiến sĩ năm 1877, làm Ngự sử năm 1878. Sau sự kiện phản đối việc truất phế Dục Đức, ông bị tống giam, rồi bị cách chức đuổi về quê. Năm 1885, ông tham gia phong trào Cần vương và trở thành thủ lĩnh của nghĩa quân vùng Nghệ Tĩnh (thời kì 1889 đến 1895, còn bao gồm cả Thanh Hoá, Quảng Bình).

(19) Đàn hặc: phê bình điều sai trái của quan chức trước triều đình.

(20) Bôn đào: chạy trốn.

(21) Vĩnh quyết: vĩnh biệt (vì cái chết).

sinh: trời định.

(23) Ba ngang một sổ là chữ “vương” [王], thêm chữ “bạch [白] ở trên, thành chữ “hoàng”[ 皇] (hoàng đế).

(24) Vi mạng: cũng nói “vi mệnh” hay “vi lệnh”, làm trái mệnh lệnh vua quan; tự huyên: tự mình muốn làm gì thì làm; chuyển quyền.

(25) Đảo huyền: nghĩa đen là “treo ngược đầu xuống”, ở đây dùng với nghĩa xáo trộn, bất ổn.

(26) Trạch danh trị tài: chọn người có danh vọng, tài trí lỗi lạc.

(27) Văn Lãng: tức Lãng quốc công Hồng Dật. Hồng Dật

lên ngôi hiệu là Hiệp Hoà, chỉ làm vua được hơn bốn tháng thì bị giết. Chữ “lãng” [朗] gồm “lương” [良] và chữ “nguyệt” [月] ghép lại.

(28) Trưng triệu bất tường: tỏ điềm chẳng lành.

(29) Tứ nguyệt tam vương: bốn tháng ba vua (từ tháng 7 đến tháng 11 năm 1883, có ba vua nối tiếp nhau: Dục Đức, Hiệp Hoà, Kiến Phúc).

(30) Từ cuối 1883, sau khi Ưng Đăng lên ngôi (Kiến Phúc), trong dân gian truyền tụng câu đối: Nhất giang lưỡng quốc nan phân thuyết; Tứ nguyệt tam vương triệu bất tường (Một sông hai nước, lời khôn nói; Bốn tháng ba vua, điềm chẳng lành). “Một sông hai nước” hàm chỉ một con sông Hương mà bờ hữu (phía nam) là đại diện nước Pháp, bờ tả (phía bắc) là Nam triều. Thuyết, Tường ở cuối hai vế đối còn có thể hiểu là Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường.

(31) Quy thiên: về trời (chết).

(32) Trị tang: lo việc tang lễ.

(33) Trạch: chọn.

(34) Thiết nhi bất tác: bày ra nhưng không làm (lễ).

(35) Tư: gửi công văn (hành chính); tường tri: hay biết.

(36) Giàn giá tang nghi: các lễ đài, trang trí phục vụ nghi thức tang lễ nói chung.

(37) Trần thiết: trưng bày, trang trí.

(38) Thượng trà: dâng trà; thượng thiện: dâng cơm.

(39) Hội đồng: dùng như hội nghị (hai cơ quan Khâm thiên và Bộ lễ họp để thống nhất ngày chôn cất).

(40) Ninh lăng: lễ tang của vua chúa.

(41) Khiêm lăng: lăng vua Tự Đức. Tên Khiêm lăng do  chính Tự Đức đặt thay

cho tên cũ Vạn niên cơ, sau cuộc khởi nghĩa do Đoàn Hữu Trưng lãnh đạo (phần lớn nghĩa quân là binh sĩ, thợ thuyền và dân phu đang xây dựng Vạn niên cơ), năm 1866.

Theo Đại Nam thực lục chính biên, thì ngày 1 tháng 8 Quý Mùi (1-9-1883) mới rước quan tài đem đi chôn. Như vậy, khi Pháp đánh chiếm Thuận An (từ 17 đến 20 tháng 8-1883), thi hài Tự Đức chỉ mới được khâm liệm, còn quàn tại hoàng thành.

(42) Hàn: Đà Nẵng.

(43) Nhâm Ngọ: năm 1882.

(44) Quan Tiễu: Ông Ích Khiêm (1840-1890), từng giữ chức Tiễu phủ sứ.

(45) Tam tài: chỉ lá cờ Pháp.

(46) Chỉnh bị: chỉnh đốn, ở thế sẵn sàng chiến đấu.

(47) Ý nói, tuyển chọn những người tài giỏi, được rèn luyện tử tế.

(48) Cường khấu: kẻ địch có sức mạnh và hung dữ.

(49) Bất lậu quân kì: không tiết lộ những điều cơ mật của việc dùng quân.

(50) Lệnh kì: cờ lệnh.

(5) Tham hặc: nghĩa như đàn hặc (chú thích 19).

(52) Nhất tràng: đồng loạt.

(53) Chước: mưu chước.

(54) Vạn hác thiên hô: thường nói thiên hô vạn hác, nghĩa: nhiều vô kể.

(55) Đái tội lập công: lập công để chuộc tội lỗi đã phạm phải.

(56) Trạo phu: người chèo thuyền.

(57) Đơn trì: thềm cung vua; ở đây, chỉ nhà vua.

(58) Tùy quân: quân sĩ tháp tùng.

(59) Cơ cuộc: cơ sự, thế cuộc.

(60) Tận trách: hết lòng vì trách nhiệm.

(61) Thị thường: coi khinh, khinh thường.

(62) Man tâm: tâm địa dã man, tráo trở.

(63) Kim giai: thềm vàng, chỉ nơi ngự triều.

(64) Quan Quận: chỉ Nguyễn Văn Tường.

(65) Quan một: thiếu uý; quan ba: đại uý.

(66) Ý cả câu: chiến sự vừa xảy ra, ai chịu trách nhiệm (người Pháp muốn nói, chúng qua do Tiên đế – Tự Đức – đồng ý, nay vua mới gây chiến cản trở, vậy phải chịu trách nhiệm).

(67) Nước chi: điều kiện, cách thức gì.

(68) Tiên đế thăng hà: chỉ việc vua Tự Đức chết.

(69) Ngã nhược nhĩ cường: ta yếu, địch mạnh.

(70) Thân thi: thi thể, thân xác người chết.

(71) Hiển: hiển linh bằng cách hiện hồn nhập xác (cầu đồng), hay báo mộng

chỉ nơi chết.

(72) Lấy ý từ bài thơ của Lý Thường Kiệt:

Nam quốc sơn hà Nam đế cư,

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư…

(73) Mại quốc cầu vinh: bán nước để được vinh hoa phú quý.

(74) Lấy ý từ câu “Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất lậu” (lưới trời lồng lộng, tuy thưa mà không ai lọt khỏi) (Lão Tử).

(75) Binh bại chịu mềm: vì thua trận nên phải chịu nhẫn nhục.

(76) Thổ võ: cũng nói “thổ vũ”, gần nghĩa với lãnh thổ, cương vực (đất đai, bờ cõi của một nước).

(77) Triều quy: những quy tắc, nền nếp trong triều.

(78) Khuy khuyết thậm đa: có rất nhiều khiếm khuyết, hạn chế.

(79) Xung lăng đột khuyết: xông vào lăng, đánh vào cửa cung. Tức xông vào chỗ vua ở để giết.

(80) Tịch cốc chung thân: nhịn ăn suốt đời. Dục Đức bị giam đói trong ngục \ cho đến chết.

(81) Tên các đội phục vụ nhà vua: “Cầm y” lo về áo quần, giày mũ; “Loan pha bên ngoài; “Hoà thanh” lo tấu nhạc. Ngô Tràng: đội “Kim ngô” và đội “Trường thường”

(82) Tên thuyền. Tế Thông, Tường Long: tên hai chiếc thuyền nhà vua  dùng; Kim Đĩnh: tên một loại thuyền của thuỷ quân.

(83) Nguyệt Tiền, Thiên Đức: tên hai vì sao tốt, hợp với với tống táng.

(84) Theo Đại Nam thưic lục chính biên, thì ngày mồng ba (3-9-1883) đặt ở điện Hòa Khiêm ở Khiêm lăng, ngày mồng hai tháng chạp Quý Mùi (30-12-1983) làm lễ an táng.

(85) Hoàng ngưu: bò; kê noãn trứng gà,

(86) Năm Ngọ: năm Nhâm Ngọ, 1882.

(87) Quan Tướng: chỉ Tôn Thất Thuyết. Theo Đại Nam thực lục chính biên, thì Tôn Thất Thiếp được Hiệp Hòa phái đi khi nghe quân Pháp tập trung ở Đà Nẵng (chứ không phải khi Pháp đánh Thuận An), với mục đích để

“giảng hoà”. Lúc Thuận An thất thủ, Tôn Thất Thuyêt nạp lại cờ lệnh và ngự bài, vì tình hình đã khác.

(88) Phố Lỡ: từ Bao Vinh đi xuống độ 500 mét, bên bờ sông Hương.

(89) Xà bao: hay xà ban (sampan: tam bản), thuyền đổ bộ của quân Pháp.

(90) Sau khi đồn Trấn Hải bị quân Pháp chiếm, đồn Hạp Châu bị cháy, Ông Ích Khiêm biết hai đồn Cồn Sơn và Hòa Duân sẽ không giữ nổi, bèn cho rút quân, kéo lên Huế.

(91) Quan Hữu: Hữu quân Đô thống phủ, Đô thống Chưởng phủ sự, Kiên dũng nam Lê Sỹ, giữ chức Phó sứ hải phòng Thuận An; quan Lâm: Công bộ Hữu tham tri, Phó phòng luyện Thuận An Lâm Hoàng (hay Hoành). Cùng hi sinh, còn có Thống chế Lê Chuẩn và Chưởng vệ Nguyễn Trung.

(92) Tả thị lang Bộ lễ Trần Thúc Nhẫn. Trước đó, triều đình cử Nguyễn Thành Ý xuống Thuận An xin thương thuyết, nhưng Tổng uỷ viên Pháp là Harmand không chịu. Vua Hiệp Hoà sợ, bèn cử Trần Thúc Nhẫn đi tiếp. Cùng đi, có Phạm Như Xương. Hai người được phái đi hôm 16 – 7 âm lịch (19-8-1883).

(93) Thập: đơn vị quân đội, gồm 10 người.

(94) Điểm cổ: đánh trống.

(95) Thảo long: đoạn sông Hương mở rộng, bên hữu ngạn là thôn Quy Lai, bên

tả ngạn là thôn Thuận Hoà đông. “Thảo long” (rồng cỏ) là sợi thừng cỏ dùng để chắn ngang sông hoặc cửa biển để chống giặc.

(96) Theo Đại Nam thực lục chính biên, lúc Trần Thúc

Nhẫn đến Trấn Hải thì tàu Pháp đang bắn phá, không ra cửa được. Đến lúc mất Trấn Hải, Trần Thúc Nhẫn nhảy xuống biển tự vẫn (20-8-1883).

(97) Trên thực tế, không phải Nguyễn Văn Tường được phái đi ngày 21-8-1883, mà là Nguyễn Trọng Hợp, Thượng thư Bộ lại.

(98) Dịch nàng: Lieutenant (quan phụ tá, trung uý); Xu đăng: Adjudant (phó quản). (99) Giám mục địa phận Huế (ở Kim Long), lúc này là cố Lộc, người Pháp, tên là Caspar. (100) Ap xanh: Absinthe (tên một thứ rượu của người Pháp, cũng gọi là rượu khổ ngải).

Người số hóa

Tôn Nữ Thái Bảo Trân

Người hiệu đính

Nguyễn Thị Thảo Như