TỔNG TẬP VĂN HỌC DÂN GIAN XỨ HUẾ – VÈ, TRUYỆN THƠ (TẬP III)

1 tháng trước

 

   VÈ THAN TRÁCH DUYÊN PHẬN LONG ĐONG

Ở chi như bướm như dơi,

Bay cao liệng thấp, không nhớ mấy lời em trao.

Đêm nằm lại trách trời cao,

Thân tôi không biết nơi nào gởi thân!

Nước trà nóng chén khó bưng,

Xa nhau ra cũng nhớ những từng nhân duyên.

Những từng đây đó nhân duyên,

Có chồng rồi cũng nhớ lời nguyền thuở xưa.

Than rằng: lạt muồi lấy dưa (1)

Cao xa nơi khác, xin chừa nơi em

Thương thời đứng ngái khó xem,

Sơn xa thuỷ cách, không ai đem lại gần.

Nguyện cùng thiên địa, quỹ thần,

Ai mà ở bạc thì đừng thấy nhau!

Đó đà đặng chốn sang giàu,

Em không công thành danh toại, tại sao cũng bởi trời.

Than rằng: ướt áo không tơi

Nghĩ chi mình phải chịu với ông trời nắng mưa!

Than rằng: lạt muối lấy dưa,

Cao xa nơi khác, xin chừa nơi đây.

Xem lên nhan sắc nữ Tây (3)

Chớ nào bà Nguyệt dứt dây tơ hồng *.

Tai nghe sóng dội biển Đông,

Căn duyên muốn kết, tơ hồng chưa cho.

Than rằng: không dép lụy mo,

Sông sâu chớ lội, chờ đò mà sang.

Chậm chân một chuyến kêu vang,

Bẻ que rạch đất, hai hàng lệ rơi!

Ngửa tay lên hứng lấy nước trời,

Rửa làm sao sạch, không nhớ mấy lời tụy tuy (4)

Nào khi ôm áo ra đi,

Phụ mẫu, phụ dì ngăn đón không nghe.

Không bằng nên nỗi so le,

Bởi người sai chạy, chẳng e chi mình

Đó đà đặng chốn thuỷ tỉnh, .

Phấn dồi trăm lượng, rửa mình không trơn.

Tai nghe gió thổi rung cơn,

Anh thương em không được cũng bởi quờng (5) mẹ cha.

Tình thương anh mới lân la,

Hai hàng châu lụy tuôn ra ròng ròng.

Nước kia nửa đục, nửa trong,

Khéo coi răm cá, khéo nhọc lòng buông câu.

Đang lo sào ngắn, sông sâu

Nỗi thương, nỗi nhớ, nỗi sầu còn mang.

Nỗi sầu em hãy còn mang,

Có ông trời kia soi xét, ai phũ phàng mược ai.

Đêm nằm đứng dậy vươn vai,

Buồn đâu đưa tới, buồn hoài không khuây!

Mực sa vô giấy khô chùi,

Anh xa em người tới kẻ lui cũng buồn.

Xa nhau ra cũng bởi ai phân,

Đây nguyền với đó ái ân trọn niềm

Ái ân, ân ái trọn niềm,

Con nhện sa trước mặt, sinh điềm bỏ nhau.

Nguồn: Từ sổ tay sưu tầm của người Việt, chép năm 1990, tại làng Mỹ Xuyên, xã Phong Hoà, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Người số hóa

Võ Thị Như Ngọc

Người hiệu đính

Nguyễn Thị Thảo Như