TỔNG TẬP VĂN HỌC DÂN GIAN XỨ HUẾ – VÈ, TRUYỆN THƠ (TẬP III)
VÈ LỊCH SỬ
VỀ VỀ NHỮNG SỰ KIỆN, BIẾN CỐ, NHÂN VẬT TRIỀU NGUYỄN VÀ CHÍNH QUYỀN SÀI GÒN
VÈ TỰ ĐỨC LÊN NGÔI
Hoàng triều Tự Đức lên ngôi,
Ngai vàng Thiệu Trị nối đời quân vương.
Náo nức bốn phương,
Tiếng đồn đã rậy.
Tình Hà Nội khi ấy,
Quan thất sắc, rùng mình,
Chạy sớ vô kinh,
Cho triều đình được biết;
Bản định làm sao,
Tin tức nơi nao,
Cho tường, cho rõ:
Giữa năm Mậu Ngọ,
Mọc một cái sao
Trong thiên hạ xôn xao.
g tuần tháng tám,
Mùa màng hao kém,
Không giảm thuế cho dân;
Núi lại đào thành kênh,
Ai ai rày cũng sợ.
Nom ra ngoài chợ,
Lúa thóc đã cao,
Mua bán làm sao,
Lúa mười ba quan một chục!
Dân tỉnh buồn bực.
Nửa sợ nửa lo,
Vay mượn nhà giàu không cho,
Cầm tiền mua không bán.
Hoàng triều ngao ngán,
Nghĩ bề lo liệu,
Ai dựng nghiệp, nối nòi.
Trông ra bể mà coi,
Thấy tàu ô đôi chiếc.
Trông lên mặt nguyệt,
Hung tinh đã loạn thiên đình (3)
Bắt dân đào kênh,
Đào mười thước rộng,
Bốn mươi thước dài.
Đo đất đếm người,
Một xuất đinh hai thước!
Bắt đào cho được,
Hạn trong hai mươi ngày.
Cai phó tổng, cai thầy,
Khất xin đào một tháng.
Dân tình ngao ngán,
Có kẻ trốn không đi;
Tìm lên rú lên ri,
Đào khoai mài, củ chuối.
Người gầy, bụng đói,
Chỉ còn bộ xương!
Cai phó tổng không thương,
Bắt về đình nọc đập (4)
Lạy cao, lạy thấp,
Lạy cối, lạy chày,
Chúng chẳng tha ngay,
Máu bết đầy roi vọt!
Vợ con thêm nheo nhóc,
Chồng lại phải phu phen,
Muốn vạch cả trời lên.
Rau cháo cũng không,
Đất trắng xoá ngoài đồng,
Nhà giàu niêm kín cổng.
Còn một bộ xương sống,
Vơ vất đi ăn mày.
Rồi xó chợ lùm cây,
Quạ kêu vang bốn phía!
Xác đầy nghĩa địa,
Thây thối bên cầu,
Trời ảm đạm ưu sầu,
Cảnh hoang tàn, đói rét.
Dân nghèo cùng kiệt,
Kẻ lưu lạc tha phương,
Người chết chợ, chết đường
Trừ bọn lòng lang dạ thú không thương,
Ai ai thấy chẳng đau lòng xót dạ.
Sẵn bút đây ta tả,
Để giữ lại vài câu,
Cho ngàn vạn năm sau,
Biết cảnh tình cơ cực:
Là cái thời Tự Đức.
Nguồn:
VTTH, tr 142-145.
Khả năng bài vè ra đời vào năm Mậu Ngọ, 1858
Chú thích:
(1) Năm Mậu Ngọ, 1858, các bộ sử như Đại Nam thực lục chính biên và Quốc triều chính biên toát yếu đều ghi có ” sao cờ “. Ở Thừa Thiên Huế, năm nay có dịch bệnh vào ba tháng đầu năm; đến tháng 8, lại bị nước mặn tràn vào ruộng lúa, gây mất mùa. Đây là năm Pháp bắn đại pháo tấn công vào Sơn Trà, Đà Nẵng, mở đầu cuộc xâm lược nước ta.
(2) Tàu ô: Tàu màu đen của bọn cướp biển người Trung Quốc. Chúng đóng sào huyệt ở đảo Cát Bà, Đồ Sơn và các hòn đảo nhỏ ven biển Đông từ Trung Bộ đến Bắc Bộ.
(3) Sử cũ chép, ngày 15 tháng 9, sao Thái Bạch mọc giữa ban ngày, ở gần sao Tâm, sao Phòng, suốt bảy ngày sau mới lặn.
(4) Nọc đập: đóng cọc (nọc) rồi trói căng tay chân ra để đánh.
Người số hóa
Tôn Nữ Thái Bảo Trân
Người hiệu đính
Nguyễn Thị Thảo Như
