TỔNG TẬP VĂN HỌC DÂN GIAN XỨ HUẾ – VÈ, TRUYỆN THƠ (TẬP III)

1 tháng trước

 

 VÈ TÁM MƯƠI NĂM KHÓI LỬA HUNG TÀN

Bà con lẳng lặng mà nghe,

Để nghe xem kể chuyện vè Việt Nam:

Tám mươi năm khói lửa hung tàn (1),

Ai gây chinh chiến, Việt Nam đau lòng?

Người chết vợ, kẻ chết chồng,

Bỏ bày con dại giữa dòng bơ vơ.

Mới năm ba tuổi dại khờ

Dắt nhau xin kiếm, ngây thơ biết gì.

Kẻ thời đau đớn chia li,

Vợ nam chồng bắc cũng vì chiến tranh!

Kẻ thời tan tác gia đình,

Mẹ thời giặc hiếp, thân hình thảm thương.

Cha thời sớm biệt quê hương,

Khăn tang từng mảnh đầy đường, vì ai?

Một chiều súng nổ bên tai,

Giặc về cướp của giết người chẳng gớm tay.

Kể ra uất hận lòng này,

Nhà tan cửa nát, lá rụng đây vườn hoang.

Cũng vì giặc cướp bạo tàn,

Gây nên bao cảnh dã man vô cùng.

Hiếp vợ trước mặt ông chồng,

Rồi đánh con chết thả sông, cắt đầu!

Chưa bưa*, chúng lại bỏ tù,

Giam cầm khốn khổ, nói ra đau lòng.

Có người đã mấy mùa đông,

Sớm hôm, còn trẻ chờ chồng trong lao.

Dù là đói khổ lao đao,

Tiết trinh vẫn giữ, trước sau một lòng.

Sớm hôm, hôm sớm chờ chồng,

Cuộc đời cô quạnh cũng không đổi tình.

Một ngày lan rộng chiến tranh,

Lửa bốc sáng rực, nhà tranh thôi rồi!

Giặc càn thôn xóm khắp nơi,

Tiếng la kêu cứu, nghẹn lời, thôi xong!

Mấy năm lòng lại dặn lòng,

Quyết đi theo Đảng, một lòng sắt son.

Nguồn:

VTTH, tr 315-316, với nhan đề “Vè lên án chiến tranh xâm lược”. Lần in này, chúng tôi dùng tên như chính bài vè đã gọi, để chính xác hơn.

Bài vè ra đời vào khoảng 1941-1954 – từ sau 19-5-1941 (ngày thành lập Mặt trận Việt Minh), đến trước 20-7-1954. (ngày kết thúc chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương, được kí kết tại Giơ-ne-vơ).

Chú thích:

(1) Nếu tính từ ngày Pháp đánh Sơn Trà (Đà Nẵng), 1-9-1858, thì 80 năm sau, là vào thời điểm 1938. Con số 80, có lẽ chỉ phỏng chừng.

Người số hóa

Võ Hoàng Khanh

Người hiệu đính

Nguyễn Thị Thảo Như