TỔNG TẬP VĂN HỌC DÂN GIAN XỨ HUẾ – VÈ, TRUYỆN THƠ (TẬP III)

1 tháng trước

 

VÈ TÁM MƯƠI NĂM ĐÔ HỘ, DÂN TÌNH XÂN VÂN

Mừng thay nước Việt cộng hòa,

Việt Nam độc lập, dân ta thái bình.

Xưa Tây đô hộ nước mình,

Hơn tám mươi năm trời đằng đẵng, dân tình xân vân*.

Phần thời bọn Pháp thực dân,

Phần thời có kẻ gian thần tham gia.

Cõng rắn tới cắn gà nhà,

Nuôi ong tay áo, bay ra báo đời.

Vầng trăng chiếu khắp bầu trời,

Bởi vì chậu úp, soi không rõ ràng.

Dân tình cực khổ gian nan,

Lửa cơ đốt ruột, dao hàn cắt da.

Kể chi là ruột là rà,

Là nòi là giống, ăn là cứ ăn!

Chừ rút dây sợ đụng đến rừng,

Mía sâu có đốt, xin dừng chấp nê.

Lòng người sâu sắc gớm ghê,

Chăm lo chưởi* bới, điểm đề* cho Tây.

Đành rằng, tay lại chém tay,

Nghĩ đời rồi lại gớm thay cho đời!

Ba hạng của, ba hạng người,

Hai tay mười ngón, ngắn dài khác nhau.

Dương nhơn (1) chi ác lắm đâu,

Cực lòng tôi mới ít câu gọi là.

Gớm ghê những lũ Tây tà,

Thuế điền, thuê thổ cứ gia mãi hoài.

Quanh năm nợ trả không rồi,

Công sưu tư ích, lại lồi* thuế thân.

Thuế thương chánh, thuế kiểm lâm,

Thuế đò, thuế chợ,… lần lần quá cao!

 

Ba tăng tỉ lệ gia vào,

Thuế rượu, thuế thuốc (2), nơi nào (cũng) cứ thâu.

Thuế muối cho đến thuế dầu,

Càng ngày càng thắt, cất đầu không lên.

Thuế ghe, thuế gọ, thuế thuyền,

Thuế đò, thuế nước, lại thêm thuế nhà.

Thuế cây, thuế gỗ không tha,

Xuất cảng, nhập cảng biết là bao nhiêu!

Thẳng Pháp nó xiết mình nhiều,

Dân tình đồ khổ tiêu điều cũng vì thằng Tây.

Thuế đường lại với xe tay,

Mồ hôi nước mắt, nó rầy cũng cứ thâu!

Thuế bò, thuế lợn, thuế trấu,

Thậm chí như loại chó, cũng đè đầu nó ăn.

Thuế nhơ thuế nhớp quá chừng,

Nó biên nó phạt những từng cầu tiêu.

Gớm ghê thằng Pháp thiệt điêu*,

Trông nhiều nhà chứa thoả điều lục xuê (3).

Còn nhiều tạp thuế bốn bề,

Bao nhiêu thâu góp cũng đem về thằng Tây ăn.

 

Thợ thuyền lại với dân cày,

Sưu cao thuế nặng càng ngày càng nguy.

Nhiều người con vợ bán đi,

Chạy sấp chạy ngửa cũng vì thằng Tây.

Người thời đi tạm đi vay,

Lo mà đóng thuế, chứ để chầy* thì nó tăng.

Gớm ghê những lũ xâm lăng,

Ra tay áp chế muôn phần khổ thay!

Nghĩ càng tức tối lắm thay,

Thiệt loài bán thịt, thiệt Tây nó buôn người!

Bán buôn thì hết vốn hết lời,

Khoanh tay ngồi nghĩ cuộc đời ngán ngao.

Đem tiền cất vải, cất dầu,

Nó tìm nó phạt tịch thâu gia tài.

Oan này không biết kêu ai,

Ngồi mà thở ngắn than dài với nhau.

Phen ni* nợ chất lút đầu,

Cũng vì cái lũ diều hâu báo đời.

Đi bắt như lũ chó nòi,

Săng* lậu, thuốc lậu là mấy miếng mồi của thằng Tây.

Nó qua hút máu đồng bào,

Đục sâu tận tủy, moóc* vào tận xương.

Thiệt loài ăn ở vô lương,

Nha phiến với rượu là phương hại người.

Nó cho xảo trá trên đời,

Nó đem hàm, phẩm làm mồi nó câu.

Xui mình trở lại hại nhau,

Nó ngồi vách mấy, nó thâu lợi quyền.

Nhiều người đem dạ đảo điên,

Chỉ lo mình sống kiếm tiền để ăn.

Người thời chuốc mỏ, mài răng,

Người thời thấy vậy lòng hằng xót xa.

Nên chi vị quốc vong gia,

Mà lao tù không sợ, cũng bởi là thương dân.

Quyền cao lộc trọng không cần,

Cố phương cứu vớt dân tình lầm than.

Bị Tây áp bức cường quyền,

Người thời Ban Thuộc, người thời Tà Cu (4),

Người thời chết rục nhà tù,

Người thời bị lưỡi gươm thù đầu rơi!

Than ôi, trời hỡi là trời,

Vì dân vì nước, nên hồn vời âm cung!

Người thời an trí huyện Phong (5),

Người thời nó nhốt ở trong chỗ Phèn.

Mắc vòng li biệt mấy niên,

Gian nan nhiều đoạn, thảm phiền nhiều khi.

Người thời giam tại La Hi,

Kẻ đày Lao Bảo, người thời Côn Lôn.

Quyết lòng trả nợ nước non,

Tử sanh không sợ, mất còn chẳng nao.

Kẻ lên nước đục, nguồn cao,

Màn trời chiếu đất lao đao đoạn tình.

Bắc Nam có nhiều trận hi sinh,

Bởi vì cường bạo cực hình lắm thay!

Nó tra nó tấn quá tay,

Xương chất thành núi, máu đầy bằng sông.

Bắt tay, nó xâu lại cả chùm,

Nó đem ra giữa biển Đông nó nhào.

Thiệt* là thảm thiết, ơi hỡi đồng bào,

Đoạn tình có thấy trời cao đất dày!

Suối vàng hồn nọ chịu thay,

Anh em phải nhớ: thù này là thù chung.

Còn nhiều nghĩa khí anh hùng,

Quyết đền nợ nước, mắc vòng thác oan.

Oán thù muôn thuở không thay,

Trả chưa đặng nợ, thành người chưa an.

Bầu nhiệt huyết gánh giang san,

Kể làm sao xiết muôn ngàn hi sinh.

Đốt nhà cướp của hại mình,

Nó giày nó xéo, dân tình lầm than!

Gớm ghê những lũ tham tàn,

Nó tung nó đánh da vàng khô xương.

Khi nào giặc giã chiến trường,

Nó đem dân Nam Việt lót đường châu Âu.

Thiệt quân lòng dạ hiểm sâu,

Bắt làm nô lệ, bạc đầu nó cũng không tha.

Văn chương thi sĩ nước ta,

Bao nhiêu nó cấm, hoặc là nó không cho.

Có mắt mà như thử mù,

Trường học thì ít, nhà tù thì đông.

Này là kĩ nghệ bá công,

Cách nào nấu sắt nó không vẽ bày.

Quan năm, quan sáu (6) rộn thay,

Toàn quyền, khâm sứ, một bầy du côn.

Bao nhiêu vơ vét nó chôm ,

Nước mình sản vật chẳng còn gì đâu.

Đuối nhà, lấp ruộng, làm cầu,

Làm sân vận động, bắt cầu thừa lương.

Hắn xiết mình da bọc lấy xương,

Kể làm sao xiết đoạn trường phân li!

Làm sân ten nít nó chơi,

Xây hồ nó tắm sướng đời như tiên.

Kinh doanh khắp cả ba miền,

Hỏi ra cho biết số tiền ở mô*

Sống thời đành phận làm nô (7),

Mấy người đã chết dưới mồ không an.

Xây đồn đắp luỹ nghênh ngang,

Bao nhiêu cốt rụi xương tàn dời đi.

Trách thay những lũ vô nghì,

Nó làm chẳng có chút gì nghĩa nhơn*

Của mình nó vét nó ăn,

Cái chở về nước, cái mần tào lao.

Tháng ngày sung sướng biết bao,

Khi ra trường ngựa, khi vào ô ten (8),

Lơ ve, cô nhắc, sâm banh,

Bánh mì, bánh sữa để dành măng rê (9).

Sữa bò, nước đá, cà phê,

Đồ xào, đồ xúp, rô ti sẵn sàng.

Mình thời cơm hẩm, muối rang,

Bữa no bữa đói, gian nan nhiều ngày.

Vì ai mà ốm mà gầy,

Cũng vì bọn Pháp là bầy thực dân.

Đêm ngày lo việc ăn mần*,

Hai hàng nước mắt rưng rưng chan hòa!

Thằng Tây như cá mập, cá xà,

Thằng Nhật như cọp khái, kéo qua cả đoàn.

Mấy phen bom đạn rộn ràng,

Nhân dân thất nghiệp, cơ hàn suy vi.

Cửa nhà, cầu cống phá đi,

Mất chân mất cẳng cũng vì tàu bay.

Lo đêm rồi lại lo ngày,

Nghe còi báo động, mặt mày như vôi.

Tìm hầm tìm lỗ mà ngồi,

Uống ăn chẳng tiện, đứng ngồi chẳng yên.

Năm Ất Dậu, cuối tháng giêng,

Hăm lăm Nhật lại cướp quyền thằng Tây (10).

Làm Tây chẳng kịp trở tay,

Giơ mặt khỉ đột, một bầy Lang sa (11)!

Tưởng là Nhật giúp nước Nam,

Biểu tình khôi phục tiếng vang cả ba kì.

Lập nội các treo cờ Li,

Xin rằng độc lập thế thì cũng cứ cao.

Thảm thương cho mấy triệu đồng bào,

Mới lên khỏi biển đã vào trong hang!

Chữ rằng thiên bất dung gian,

Việt Minh nổi dậy, đón đàng giao chinh.

Điện tín về chỗ triều đình,

Mấy ông bộ trưởng thân hành ra đi.

Điều đình việc chẳng xong chi,

Nhiều người bỏ mạng cũng vì đạn bom.

Trần Trọng Kim trở lại triều môn,

Nội các từ chức không ông nao còn.

Bảo Đại cũng xuống ghế hô hào:

Để dân hạnh phúc, người thôi bệ vàng.

Việt Minh nổi trận oai hùng,

Múa gươm thề quyết không dung tham tàn.

Phất phơ cờ đỏ sao vàng,

Hô hào Cách mạng, tiếng vang ba kì.

Nguồn:

Bài vè do ông Nguyễn Đẩu ( một nghệ nhân hò, ở xã Lộc Bổn, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế) đọc, nhà nghiên cứu Trần Huy Thanh ghi.

Năm 1998, bài vè được đăng ở Tạp chí Huế xưa và nay, số 27, tr 30-35, dưới tên gọi “ Vè tố cáo chế độ sứu thuế của thực dân Pháp”.

Năm 2001, bài vè được in ở VTTH , tr 317-325, với tên gọi “ Vè tố cáo chế độ cai trị của thực dân Pháp”.

Giữa hai bản có một số khác biệt nhỏ. Ở đây, chúng tôi chơi theo bản ở Tạp chí Huế xưa và nay; đồng thời lấy tên theo bài vè “Vè tám mươi năm đô hộ,

dân tình xân vân”, để phù hợp hơn.

Chú thích:

(1) Dương nhơn: người dương thế.

(2) Thuốc: chỉ thuốc phiện.

(3) Lục xuê: luxure (tính dâm ô).

(4) Chỉ nhà tù ở Ban Mê Thuộc và ở Pleiku.

(5) huyện Phong: huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.

(6) Quan năm, quan sáu: trung tá, đại tá.

(7) Nô: nô lệ (nói tắt).

(8) Ô ten: hôtel (phủ, sở, quan nha, tòà nhà riêng,…).

(9) Lơ ve, Cô nhắc, sâm banh: tên các loại bia rượu Pháp thường dùng; măng rê: nói tắt của gác măng rê (garde manger): tủ đựng đồ ăn.

(10) 25 tháng giêng năm Ất Dậu, tức 9-3-1945, phát xít Nhật đảo chính lật đổ Pháp.

(11) Lang sa: Pháp.

Người số hóa

Võ Hoàng Khanh

Người hiệu đính

Nguyễn Thị Thảo Như