TỔNG TẬP VĂN HỌC DÂN GIAN XỨ HUẾ – VÈ, TRUYỆN THƠ (TẬP III)
VÈ CHỐNG NGOẠI XÂM
VÈ CHỐNG PHÁP
CÁC TÌNH HUỐNG, TRẬN ĐÁNH
VÈ QUẢNG GIANG
Ngồi buồn nghĩ chuyện gần xa,
Nghĩ đi suy lại nói ra chuyện làng.
Giấy tờ đặt để đôi hàng,
Đường cay nẻo đắng, bạn vàng xem qua:
Tháng giêng bốn bảy, ngày hăm ba (1),
Bao vây bốn mặt, Tây qua lần đầu.
Cơn khủng khiếp dắt nhau lánh nạn,
Vượt qua miền mưa đạn xâm lăng;
Quản bao thân phận nhọc nhằn,
Người vào trong rú*, kẻ tìm trằm* mà ra!
Con chạy lại, vợ chạy qua,
Bước đường lưu lạc kêu ca thêm phiền.
Đóng đình Lai Hà, cả sở Hương Xuyên (2),
Kêu đâu về đấy mới yên trong làng.
Dân tình chi xiết hoang mang,
Cha con, chồng vợ bỏ làng mà đi.
Lời thề cũ vẫn còn ghi tạc,
Với giặc không hợp tác rõ ràng;
Vườn không cùng với nhà hoang (3),
Người lên xóm Trạng, kẻ xuống Triều Dương
lánh mình (4).
Tưởng năm ba tuần tình thế lặng yên,
Ai hay cả năm trường bị thường xuyên bốn mùa.
Giận loại hèn mạt a dua,
Ni đâm mai điểm (5) cay chua trăm đàng!
Hắn dẫn Tây đốt nhà Triền, Ngạc, Phát, Bàng,
Không hay ngứa tay đốt hết nửa làng khói bay!
Cảnh tình trăm đắng nghìn cay,
Chạy dài chạy ngắn, càng ngày càng khô.
Tây bao vây Đồng Bào, Cao Xá, Cồn Giá, Cồn Mồ,
Cha con Cửu Đảnh (6) Họa đồ Tây đi.
Tiền trăm bạc vạn kể chi,
Cơ đồ tan nát, khổ ra ri* ơi hỡi trời!
Lâu ngày hết nghỉn, hao hơi,
Chính quyền hai chữ, tùy thời ở ăn.
Cờ bí nước, mần răng* mở nước?
Đò phong ba, liệu chước xích xê;
Mặc dù không phụ lời thề,
Không thân với giặc, cũng trở về quê hương.
Kể sao xiết nỗi đoạn trường,
Người còn chồng không vợ, kẻ còn nương không nhà!
Dặm nghìn nước thẳm, non xa,
Uỷ ban hành chánh(7) đi ra khỏi làng,
Dấu Kháng chiến trong lưng thằng Ngạc,
Dấu Hành chánh trong bóp thằng Bàng;
Hai thằng một ngả tìm đàng xước đi (8).
Triền thì đau sốt li bì,
Tiền không gạo hết, Phát đi chưa về (9)!
Thối, Thắng ngó đã lê mê,
Lâu, Túc thì chết tại khe Đồng Bào (10).
Dân tình nay xác, mai xao,
Nỗi sợ bên ni*, nỗi sợ bên khác, ngó vào xơ rơ!
Việt gian hắn mọc bất ngờ,
Nhân viên hắn bắt, giấy tờ hắn sương*.
Các cơ quan hắn biết tận tường,
Sáu mươi tự vệ mang gươm về hàng.
Dựng nguỵ quyền ni sửa mai sang,
Ni lấp hầm mai phát bụi, dân làng đứng điêu.
Mưa dồn gió dập trăm chiều,
Phần thằng Tây khủng bố, phần thẳng Tiêu (11) hoành hành.
Đầu nói ra bảo vệ dân mình,
Ai hay sữa bơ béo miệng, thật tình Việt gian.
Người yêu nước, hắn nói rằng Cộng sản,
Hắn theo Tây, lại giả dạng quốc gia;
Dẫn Tây đi lùng phe Đông, phe Tây, chí phe Ba,
Hắn hui râu hùm Trùm Mạch, đốt nhà thợ Luy (12).
Bắt ngày bảy tám chục cu li,
Ai mà thiếu sót, roi thi đánh ngay.
Gặp Tiêu, phải “thưa Ông”, “thưa Thầy”,
Ai lỡ chào chú, hắn dẫn Tây đi đốt nhà.
Mồ cha Tây đi lùng, vớ được mấy chị đàn bà,
Thằng “bông” thằng “biến” (13), hắn đưa ra xé quần:
“Thưa các quan, nhà tôi nghèo,
Hai tờ bạc năm đồng để trên cái giường;
Chứ người tôi trên yếm dưới ống, toàn thân không có gì”
Cả bầy Tây đứa ngúc, đứa “uỳ”,
Tụm năm tụm bảy, không biết dắt đi phương nào?
Bà con chẳng biết làm sao,
Xót thương các chị má hồng đào vô duyên!
Có việc chi thằng Tiêu gọi, phải chạy liền,
Giỗ cha cũng bỏ, cúng tổ tiên cũng lùa.
Bọn bụi đời gặp lúc cờ xấu, bạc thua,
Muốn ra “mì xự”, “bông rua” (14) kiếm tiền.
Thụt thùi trong dạ chưa yên,
Suy đi tính lại sợ phiền công an.
Thảm sáu bạn phơi gan giúp nước,
Bởi yếu đau, lánh bước về quê;
Thằng Tiêu dỗ ra, hắn nói cho yên bề,
Hay đâu hắn nói du kích về giết lí hương.
Tây biết chi hơn thiệt so lường,
Hắn cắt da từng miếng, rạch xương từng đàng (15).
Dân tình ai chẳng luỵ chan,
Giận loài tàn bạo, tâm can như dầu!
Lần hồi thu mãn, đông đầu,
Bước qua tháng mười một, bắc cầu xe đi (16).
Mỗi ngày tám, chín chục cu li,
Ai mà chậm trễ bắt đi giam hầm.
Ngói gạch xã bắt dân bới, vác,
Các họ, phe phá nát, nỏ còn gì;
Đốn toang ruồng rậm rú ri*,
Giang sơn thổ trụ còn chi, ơi hỡi trời?
Ruộng nẻ, nước thời chưa lấy,
Mạ héo khô, cày cấy trễ ngày;
Lỡ đôi hồi mắm lửa*, cơm vay,
Thiếu cu li, thằng Sủng bắt ngay liền bà (17).
Nỗi hành hạ không nơi kêu thấu,
Muốn nói ra sợ lậu trăm chiều;
Dân tình đã quá đứng điêu,
Lệnh trên đưa xuống, giết thằng Tiêu cho đỡ đần.
Giết Tiêu rồi, khủng bố có phần hơi giảm,
Nhưng nói chung còn lắm gian nan.
Hàng ngày xé bạc Việt Nam,
Bắt gà bắt vịt, trăm đàng đắng cay!
Bắt rau sống heo quay cho kịp,
Nước cà phê, trứng vịt trứng gà;
Dân tình ai dám nói ra,
Ngày đêm luống những kêu ca than phiền!
Về chính trị, tuyên truyền Bảo Đại,
Nước có vua đem lại vẹn toàn;
Xê đi xích lại sửa sang,
Hội đồng chấp chánh* chưa an bề nào.
Làm như cá, nay trao mai đổi,
Khủng bố dân nhiều nỗi lắm mà;
Buồn cười thằng Dụy tuyên truyền Liên hiệp quốc gia,
Hắn trương lên trương xuống như gà gáy canh!
Hắn yêu nước bằng danh bằng lợi,
Hắn thương nòi bởi áo bởi cơm;
Nhà đã cháy, hắn tấp thêm rơm,
Làm sao cho khỏi thẹn với cao sơn muôn trùng!
Hắn hành hạ vô cùng khổ sở,
Hắn bắt dân chuyên chở thường lề;
Chèo đi rồi lại chèo về,
Ni qua Phong Phú, mai về Chí Long.
Hắn nghi ai có lòng yêu nước,
Hắn tìm đủ phương đủ chước khảo tra.
Kể chi than khóc kêu la,
Làm cho lắm nỗi xót xa tội tình!
Người chọc tiết như hình gà vịt,
Người đưa ra xẻo thịt như trâu;
Người thì lấy búa bửa * đầu,
Nấu nước sôi hắn dội, lấy dầu hắn chưng.
Người cho chó cắn khắp lưng tràn cổ,
Người hắn nhốt vào lỗ, vào hang;
Đem phơi những lúc nắng chang,
Bắt dầm những trận mưa xang lạnh lùng.
Người hắn nhốt trong cùm trong điếm,
Người hắn dùng điện để khảo tra,
Nhận nước* như thể ma rà*,
Treo cây hắn bắn như là bắn chim.
Người mất xác, kiếm tìm không thấy,
Người còn thây, mà lấy không ra;
Người trôi cuối hói*, đầu hà,
Xương rơi thịt nát mưa sa gió lồng!
Người hắn lấy dây thừng thắt cổ,
Nặn máu đào, hắn mổ lấy gan;
Cực hình chi quá dã man,
Máu me Hồng Lạc kêu vang chẳng thấu trời!
Người chưa kịp trả lời hắn bắn,
Người khai bừa, hắn cũng chẳng tha;
Người thì cắt thịt, phanh da,
Dập xương, cạo tuỷ ai mà không đau!
Người có trước mà sau chẳng có,
Người có đầu mà nỏ có đuôi;
Thù này muôn kiếp không nguôi,
Gan bầm ruột thắt như chùi ai ơi!
Trai mất vợ, nhiêu lời than khóc,
Vợ mất chồng, lăn lóc nỉ non;
Còn cha mà nỏ* còn con,
Còn anh mất chị, nước non đâu rồi!
Cảnh tình ấy, ôi thôi là thảm,
Cơ cuộc kia còn ngán lắm mà!
Kể chi trai gái trẻ già,
Đàn ông tàn sát, đàn bà hiếp dâm.
Nông nỗi ấy ôm cầm sao được,
Căm giận loài đục nước béo cò;
Giang sơn Tổ quốc không lo,
Nồi da xáo thịt bày trò hại dân.
Các bạn ơi, Tổ quốc lâm nguy phải chung sức chung lòng!
Cơ đồ sự nghiệp chẳng dành phần riêng ai.
Quây quần lại quanh đài kháng chiến,
Dắt dìu nhau tới bến thành công.
Quản gì nắng hạ mưa đông,
Quân thù phải diệt, non sông phải giành.
Hỡi các bậc uy danh phụ lão,
Hãy đưng lên xông xáo với non sông!
Ngại gì tóc bạc răng long,
Đánh Nguyên Hội nghị Diên Hồng nhờ ai?
Hơi phụ nữ, con nhà đài các,
Chồng con đang gồi tuyết, năm sương:
Tiến lên chớ khá so lường,
Cỡi voi giết giặc, Trưng Vương báo thù chồng!
Hỡi thanh niên xương đồng gia cứng!
Cơ hội này ngôi đứng sao an?
Gươm căm tay, súng vai mang,
Lăn mình ra chốn chiến trường cùng ai.
Hỡi thiếu niên tài sơ sức yếu,
Các em nên tính liệu học hành;
Tình báo liên lạc cho nhanh,
Góp phần cứu nước, phải giành chớ quên!
Kiên gan quyết chí cho bền,
Trường kỳ kháng chiến mới nên vẹn tròn.
Kìa ai khóc nước tủi non,
Mà ta hờ hững lòng son sao đành?
Cờ độc lập quyết giành cho được,
Đài vinh quang đón rước mọi nhà.
Hoan hô ta lại cùng ta,
Việt Nam dân chủ cộng hòa muôn năm!
Nguồn:
Huỳnh Đình Kết (chủ biên), Văn Đình Triền, Trần Đình Tối, Địa chí văn hóa xã Quảng Thái, Nxb Thuận Hóa, Huế, 2000; trang 271-280 (phụ lục 5).
Bài vè được sáng tác tại Quảng Giang, vào tháng 2 năm 1949, gồm 202 dòng thơ lục bát, song thất lục bát.
Tác giả: Duy Hoài (Hoàng Phát), Trang Huy (Văn Đình Triền).
Chú thích:
(1) Giặc Pháp đến xã Quảng Giang ngày 23 tháng giêng Đinh Hợi (13-2-1947).
(2) Hương Xuyên: Ông Phạm Xuyên, ở ấp Lai Hà.
(3) Chủ trương Tiêu thổ kháng chiến.
(4) Xóm Trạng:Thôn Đức Tích, xã Phòng Đăng, cách Quảng Giang 8 km về phía tây( nay là thôn Phú An, xã Phong Đinh). Triều Dương: tên thôn thuộc xã Phong Nhiêu, cách xã Quảng Giang 8 km về phía nam.
(5) Ni đâm mai điểm: ( những kẻ Việt gian) thường xuyên bày vẽ, chỉ điểm cho giặc.
(6) Cửu Đảnh: tức Văn Đảnh , ở Lai Hà.
(7) Thời điểm này, Ủy ban Hành chính và Ủy ban Kháng chiến cùng hoạt động, sau thành lập Ủy ban Kháng chiến Hành chính.
(8) Ngạc: Phạm Bá Ngạc, thôn Thuỷ Nịu, Ủy viên quân sự của Uy ban Kháng chiến; Bàng: Trần Bàng, thôn Thuỷ Nịu, Chủ tịch Ủy ban Hành chính. Ngày 22 – 2 – 1947, Hoàng Tiêu và Hồ Khí dẫn Tây từ Lai Hà về thôn Trằm Ngang đốt sạch nhà cửa 130 gia đình, thì vào tối hôm ấy, Ngạc và Bàng ra bến Tròng Làng chạy vào Huế.
(9) Triều: Văn Đình Triền, thôn Trằm Ngang, đi bộ đội Nam tiến, sức khoe kém, về làm Bí thư chỉ bộ, bị bệnh sốt rét. Phát: Hoàng Phát, thôn Trằm Ngang, Chị tịch Uy ban Kháng chiến. Ngày vỡ mặt trận Thuận Hoá, Tỉnh triệu tập lên chiến khu bồi dưỡng chưa về.
(10) Thối: Lê Thối (Hạng), thôn Thủy Nịu, dân quân tự vệ, bị bọn Việt gian truy nã, phải chạy sang lam liên lạc. Thắng: Phạm Thắng, ấp Lai Hà, làm liên lạc Ủy ban Kháng chiến, bỏ đi buôn.Lâu: Hoàng Lâu, thôn Nam Giảng, cán bộ lương thực của xã. Túc:Trần Túc, thôn Đông Hồ, đảng viên mới kết nạp. Khe Đồng Bào giáp với thôn Nam Giảng (Quảng Giang) và thôn Hà Lạc (Quảng Tín).
(11) Tiêu: Hoàng Tiêu. Tiêu bị giết lúc 9 giờ, ngày mông một tết Kỉ Sửu (29-1-1949), tài gần cầu Nịu, về phía đông.
(12) Trùm Mạch: Hồ Mạch, thôn Nam Giảng. Thợ Luy: Hồ Luy, thợ may, thôn Nam Giảng.
(13) Bông: bon (tốt). Biến: bien (tốt). Uỳ: oui (vâng, được).
(14) Mì xự: messieurs (quý ông, các ngài). Bông rua: bonjour (chào – lúc ban ngày).
(15) Sáu bạn: Trần Huế, Trần Chủ, Trần Chấp, Nguyễn Hợi (thôn Trằm Ngang), Lê Nả (thôn Thủy Nịu), Nguyễn Ố (thôn Nam Giảng); họ cùng đi bộ đội đia phương huyện Quảng Điền. Mặt trận Thuận Hóa vỡ, không có lương thực, được cho về nhà. Hoàng Tiêu giao trách nhiệm cho Lê Ngôn (thôn Trăm Ngang), Hô Khí (thôn Đông Hồ) đón nhận sáu người trở về này, rồi giết chết tất cả.
(16) Tháng 11 Đinh Hợi, tức tháng 12-1947.
(17) Thằng Sủng: Phạm Sủng, thôn Tây Hoàng, làm Trưởng ban hương vệ.
Người số hóa
Tôn Nữ Thái Bảo Trân
Người hiệu đính
Nguyễn Thị Thảo Như
