TỔNG TẬP VĂN HỌC DÂN GIAN XỨ HUẾ – VÈ, TRUYỆN THƠ (TẬP III)
VÈ NHỚ CẢ QUÊ HƯƠNG
Ai về Kẻ Vạn, Kim Long,
Cho tôi gởi* cả tấm lòng doại (1) theo.
Trên ni (2) rừng núi cheo leo,
Qua bao gành thác lội đèo khó đi.
Chừ* đây tôi biết nói gì,
Hương Bình (3) dưới nớ *, bữa ni thế nào?
Tinh thần quần chúng thấp cao,
Hôm nay chuyển đổi, phong trào xuống lên?
Có năng hoạt động về đêm,
Mấy đồn giặc Pháp? Đóng thêm mấy đồn?
Có ai về thấu hậu thôn (4),
Nhắn đàn em bé lớn khôn chừng nào?
Hôm nay học tập ra sao?
Kỳ thi năm ấy (5), em nào nhớ quên?
Em nào còn nhớ hay quên,
Có người anh cả đã lên núi rừng?
Nhắn đoàn bạn trẻ nông dân,
Hôm nay đồng áng ăn mần* khá không?
Lòng tôi tha thiết yêu đồng,
Nhớ người, nhớ cảnh, nhớ sông, nhớ đò.
Nhớ mùa lúa chín thơm tho,
Nhớ cô thôn nữ, nhớ o bán hàng.
Nhớ người khắp cả xóm làng,
Nhớ người âu yếm, nhớ đàn thiếu nhi.
Từ khi tôi bước chân đi,
Đàn em ngơ ngác, nhớ gì đến tôi?
Chiều nay xa xóm, xa thôn,
Chao ôi, tôi nhớ quê hương lạ lùng!
Em ơi, gắng đợi gắng trông,
Ngày mai kháng chiến thành công anh về.
Nguồn:
VTTH, tr 292-293.
Bài vè ra đời khoảng thời gian 1948-1954.
Chú thích:
(1) Doại: dọi (dõi theo).
(2) Trên ni: chỉ vùng chiến khu Dương Hòa (từ tháng 5-1948, là chiến khu của tỉnh Thừa Thiên Huế).
(3) Hương Bình: tên xã trong kháng chiến, bao gồm các làng: Trúc Lâm, An Ninh Thượng, An Ninh Hạ, Xuân Hòa, Kim Long, Vạn Xuân (nay là xã Hương
Long và phường Kim Long, thành phố Huế).
(4) Hậu thôn: chỉ phần đất làng Kim Long nằm ở phía bắc sông Bạch Yến.
(5) Kì thi Bình dân học vụ năm 1946.
Người số hóa
Võ Hoàng Khanh
Người hiệu đính
Nguyễn Thị Thảo Như
