TỔNG TẬP VĂN HỌC DÂN GIAN XỨ HUẾ – VÈ, TRUYỆN THƠ (TẬP III)

1 tháng trước

CHIẾN THẮNG, TỔNG KẾT

 

 VÈ NĂM ẤT DẬU (1945)

 

Năm Ất Dậu vốn thiệt gian nguy,

Thiên hạ đồ Khổ, hàn vi (1) muôn phần.

Bởi vì mua lúa ki lô, nên chi lúa hết xân vân*,

Thợ thuyền lục huyện (2) chư dân cũng đói đều.

Nay chừ* mần mạng* không ai kêu*,

Mạ* mi* ơi, vác cái cuốc đem cái thêu* đi cầm!

Cụ mi ơi, thương cụ mi chừ hết sức tận tâm,

Trời mưa trơn tuột cũng căng tầm vác đi!

Hai hàng nước mắt lâm li,

Chân đi không được, bụng thì xẹp ve.

Con ơi đừng khóc con nghe,

Vì chưng trời đất, mẹ thân thè ra ri.

Có nhà quá sức hàn vi,

Giang sơn* một cái áo cổi* đi cho nhà giàu.

Chiều chiều ra đứng ngõ sau,

Đàn bà, con nít đi hái rau chật đồng.

Bữa ni* nhà nước có trát sức kêu công,

Một ngày một đồng tám, một lon ruỡi gạo, ai bằng lòng thì ra đi.

Đàn ông vác thêu*, vác cuốc; đàn bà, con nít gánh trạc*, gánh ki*,

Lên trên tòa Sứ làm cu li kiếm tiền.

Người thời trên bộ, kẻ xuống dưới thuyền,

Cả Thừa Thiên lục huyện, quá thiên quá ngàn.

Kêu nhau í ới la vang,

Có thêm mấy mụ gánh hàng đi qua.

Bữa nớ* có một mụ bán cháo thịt gà,

Mỗi người ăn một đọi* thành ba, sùi nước mồm nước miếng,

ngả ra kêu trời!

Mụ bán cháo xem thấy hỡi ôi,

Gánh cái gánh chạy mất, mới lồm cồm ngồi dậy đi.

Ngó qua chị bán bánh tét cũng khổ lắm ri*,

Ăn rồi một bụng, giơ ì ra cho.

Ăn vô một bụng cho no,

Ngó sau ngó trước, sướt cò chạy lia!

Kể từ Ất Dậu tháng giêng,

Người thì đói chết ngả nghiêng dọc đường.

Nói ra thêm bực thêm phiền,

Lập hội cứu tế, tới quyên nhà giàu.

Đem về nấu cháo cho mau,

Người bò kẻ lết, kêu nhau lại ngồi.

Vì chưng đói khát thương ôi,

Húp mỗi miếng cháo, húp rồi tỉnh lai.

Vừa chừng thì đến tháng hai,

Bắt đầu nhà nước phát mỗi người một lon.

Ăn vô mẹ mới chộ* con,

Chồng đây chộ vợ vuông tròn từ nay.

Vì chưng thằng Nhật qua đây,

Nên chi lúa gạo thằng Tây trữ dành.

Nói ra nhiều đoạn thảm thương,

Hai mươi lăm tháng giêng, nó đánh Bắc Kì, Nam Bộ,

lấy Đông Dương một giờ (3).

Đông, tây, nam, bắc Nhật đã treo cờ,

Còn đồn Mang Cá, bảy giờ còn đánh nhau.

Nên chi bị chết trên lầu,

Người thì lủng ruột, kẻ mất đầu, nát thây.

Thằng Pháp thúc thủ, bó tay,

Áo quần Nhật lột, tất giày Nhật mang!

Bao nhiều kho gạo, kho lúa, kho bạc, đến chí kho vàng,

Bốn bề Nhật gác, bốn phía đàng Nhật canh.

Công sứ, Khâm sứ Pháp, Nhật giam tại Môranh,

Ba thằng Tây thượng lộ, Nhật bắt mình đi đuổi theo.

Thằng nào bắt được, trói lại ngó như heo,

Thằng nào bắt không được, cứ đuổi theo bắn hoài.

Truông Phù Bài Nhật đem đèn vô soi,

Ba thằng Tây trốn chạy, nó bắn thị oai lấy đồ.

Ngó về đường Bạch Mã, có quân đội Nhật vác súng đi vô,

Ba thằng Tây thấy trước, băng núi lồ ô lên Lào!

Bao nhiêu li, nĩa, dĩa*, thau,

Tủ, bàn, giường, ghế gánh về tàu chở vô.

Hội chợ nó lấy ô tô,

Bao nhiêu Nhật lấy hết, chở vô đem về.

Đoạn này nói đến mấy chú a lê (4),

Tìm phương lên Mọi trốn, đánh điện về bên Mỹ, Anh.

Pháp bó mình không dám đấu tranh,

Cầu cứu Anh, Mỹ đem tàu bay qua phá đàng.

Tàu thuỷ bom thả bể tan,

Xe hơi nó lại triệt đàng không tới lui.

Trải qua một lúc quá vui

Việt Minh nổi dậy: giáo, đùi* với lưỡi lê!

Đánh Pháp, đuổi Nhật trở về,

Dựng nên độc lập, cộng hòa muôn năm!

Nương theo cờ đỏ ngôi sao,

Sướng là quá sướng biết bao nhiêu là,

Kể từ ngày thằng Pháp hắn tới nước ta,

Một trăm thứ thuế, Không từ mà thuế chi:

Thuế thân, thuế thổ, thuế điền,

Gia phần trăm, gia tỉ lệ, thấy li bì ruột da.

Có một đôi làng, ông lí cũng điêu toa,

Toạ thâu kêu bánh, kêu quà vô bữa trưa.

Ăn rồi lấy đó mà đưa,

Số một sào có bảy giác, sau cù cưa lên thấu* đồng!

Dân “thưa thầy, cho tôi xin nạp chín giác năm”, cũng không,

Trừng lên nạt xuống, nạp đủ đồng mới xuất biên(5).

Thương cho Việt Minh mình, những kẻ anh tài, nó thám (6)  đặng nó đến bắt liền,

Mấy lâu ni* trồi đầu không nổi, cũng bởi dưới quyền thằng Tây.

Cực khổ sinh ra trộm cướp, lá lay,

Toàn dân đồ khổ, bởi thằng Tây nắn bóp mình.

Kể ra món thuế ai nấy cũng thất kinh,

Trừ ra thuế miếu, thuế đình thì nó không.

Thuế đò, thuế nôốc* cũng khắc chữ bài cùng,

Thuế nhà, thuế chợ, đánh lung tung không thiếu gì!

Làm cho mình thiên hạ suy vi,

Người nào không chịu đem đi ngục hình.

Đến khi gặp Mặt trận Việt Minh,

Nổi lên đánh Pháp khắp nơi ba miền.

Việt gian ơi hỡi không tha,

Tịch thu gia sản, tội đem ra tử hình.

Ngô Khôi với kẻ Phạm Quỳnh,

Buôn dân bán nước, tội tử hình cả hai.

Năm Ất Dậu lúa gạo nó đã thâu dần,

Giam dân chết đói cho đừng ngu ngoe.

Khi ấy Bảo Đại không nghe,

Thời dân bị chết, nên xin về hội thương.

Sau Việt Minh, nghĩ tình Bảo Đại cũng thương,

Sợ dân bị chết nên kiếm đường đón can.

Tức mình mấy chú Việt gian,

Nghĩ ra tội đáng xẻ gan bêu đầu!

Nay chừ gái trai, già trẻ, cho chí kẻ bạc râu,

Nghe đưa thông cáo, kéo nhau đi biểu tình.

Sung sướng như Bảo Đại mà còn giao ần kiếm, trở lại Việt Minh

Vợ hoàng hậu cũng hớn hở vui mừng,

Họp đoàn nữ giới, chân lần một hai.

Tới sân vận động, gái cũng như trai,

Nghe lời tuyên bố, lắng tai vào mình.

Về nhà biết sự hi sinh,

Lâu lâu có một chương trình:

Bảy ngày góp gạo trong gia đình mà nhịn ăn.

Nhịn một phần cho Nam Bộ giêt kẻ xâm lăng,

Phần giúp Bắc Bộ bị cơn lụt bão, nỉ năn cơ hàn.

Rồi đây nói chuyện cúng bạc, cúng vàng,

Sắm khí giới, du kích tập luyện đánh đuổi thằng Pháp, đừng cho nó lại kéo sang nước mình.

Tức giận Ngô Khôi với kẻ Phạm Quỳnh,

Ngô Khôi thì thân Nhật, Phạm Quỳnh thì thân Tây.

Sau hai người ấy chết nỏ* toàn thây,

Việt gian ơi hỡi, lá lay răng* không chừa?

Ngày nay Dân chủ Cộng hoà,

Việt gian bắt hết, không tha thằng nào.

Thưa cùng anh chị đồng bào,

Dự bị khí giới lên Lào đánh Tây.

Ra đi thưa mẹ, thưa thầy,

Tôi không chịu sống dưới quyền đô hộ, dẫu có chết bỏ thây cũng đành!

Linh hồn mấy người Cách mạng thác đi rồi, có linh thiêng thì phù hộ quân lính tấn lực thành danh,

Bắn thằng Tây cho đổ ruột, phản đối phái bộ Anh cho nó về.

Nó còn lai vãng lăm le,

Đụng mô* ta đánh nấy, đừng cho thằng Pháp qua về nước ta.

Đồng bào hai mươi lăm triệu nước ta,

Ai ai cũng có tấm lòng mà hi sinh.

Gái có chồng, trai có vợ cũng dứt ngoẻn chữ tình,

Đến kì gọi lính quyết tình ra đi.

Trai thời con vợ biệt li,

Gái thì hớt tóc, chân quỳ, mắt nheo (7)

Đêm khuya gió thổi heo heo,

Quản gì sương tuyết, quyết theo nước nhà.

Giữ gìn độc lập cho ta,

Cụ Hồ Chủ tịch vậy mà xuất dương.

Đem dân cho tới sá tới đường (8),

Đồng bào ai nấy cũng nên thương người tài.

Đông xung, tây đột, nam khứ, bắc lai,

Ai cũng mong Hồ Chủ tịch trẻ hoài chứ đừng tra*.

Giữ gìn độc lập cho ta,

Việt Nam Dân chủ Cộng hòa muôn năm!

Nguồn:

Bài vè do ông Nguyễn Đẩu (một nghệ nhân hò, ở xã Lộc Bổn, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế) đọc, nhà nghiên cứu Trần Huy Thanh ghi.

Năm 2003, bài vè được đăng ở Tập san Nghiên cứu Văn hóa dân gian Thừa

Thiên Huế, 12-2003, tr 132-138.

Chú thích:

(1) Ất Dậu: năm 1945. Hàn vi: dùng với nghĩa như đói khó.

(2) Lục huyện: 6 huyện thuộc phủ Thừa Thiên: Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà, Hương Thủy, Phú Vang, Phú Lộc.

(3) Tức 09-3-1945, ngày Nhật đảo chính Pháp, chiếm Đông Dương.

(4) Chỉ người Pháp.

(5) Biên: biên lai.

(6) Thám: do thám, dò xét.

(7) Chỉ việc tập luyện bắn súng.

(8) Tới sá tới đường: đến nơi đến chốn.

Người số hóa

Võ Hoàng Khanh

Người hiệu đính

Nguyễn Thị Thảo Như