TỔNG TẬP VĂN HỌC DÂN GIAN XỨ HUẾ – VÈ, TRUYỆN THƠ (TẬP III)
VÈ MỪNG ĐỘC LẬP, ĐỘNG VIÊN PHONG TRÀO BÌNH DÂN HỌC VỤ
Ca vè hò hát tự thân,
Nôm na có vận (1), đưa lên vài hàng.
Chúc mừng độc lập hoàn toàn,
Chúc mừng cờ đỏ sao vàng muôn năm!
Truy điệu chiến sĩ trận vong,
Chúc mừng Cách mạng thành công nước nhà!
Chúc mừng hạnh phúc, vinh ba*,
Hoan hô dân chủ cộng hòa thứ hai (2)!
Dưới quyền chế độ quá dài,
Tám mươi năm ni* chịu cảnh điếc tai chữ mù (3)!
Hiềm vì thất học trí ngu,
Hèn chi đến nỗi quân thù xâm lăng.
Cụ Hồ kêu gọi năn nỉ, nỉ năn:
Chống nạn thất học cũng bằng ngoại xâm!
Mở trường học vụ bình dân,
Muốn cho con Lạc cháu Hồng thông minh.
Quốc ngữ là chữ nước mình,
Ai mà không học chẳng thành công dân.
Khuyên cùng đồng chí, đồng tâm,
Đồng bào nam nữ, quý ông, quý bà:
Hán tự là chữ Trung Hoa,
I tờ là chữ nước ta rõ ràng.
Biết đọc biết viết dễ dàng,
Tai nghe mắt thấy, vẻ vang tinh thần.
Học cho trọn phận công dân,
Hết cơn bĩ cực tới cùng thái lai.
Khuyên cùng phụ lão, gái trai:
Gắng công mà học, ai ai cũng thành!
Tình đoàn kết, chí hi sinh,
Thoát vòng nô lệ, giành quyền tự do.
Cất tay vang tiếng hoan hô,
Thắt chặt tình cảm, điểm tô sao vàng.
Từ thành thị cho đến cùng hang (4),
Bình dân học vụ mở mang khắp miền.
Giáo viên một mực cần chuyên,
Ủng hộ cô bác mà quên phiền hà.
Cùng nhau sát cánh chen vai,
Đem đàng* hạnh phúc tương lai nước nhà.
Quân thù bóc lột dân ta,
Học thời hạn chế, kể mà biết bao (5)!
Kềm hãm cách mạng, anh hào,
Ai mà nô lệ, quyền cao bạc nhiều (6);
Ai mà xa hướng thời yêu (7),
Ai mà nghĩa khí, hồn xiêu phách rời!
Thẹn thùng đất nước ai ơi,
Làm thân trâu ngựa, làm tôi bù nhìn.
Người yêu nước dễ ngồi yên,
Dấn thân xuất ngoại, báo đền giang sơn;
Người khởi nghĩa, kẻ xuống đường,
Biết bao đổ máu, tan xương, rơi hà (8)!
Cụ Hồ kệu gọi thiết tha,
Đồng bào thất học thế mà biết bao.
Cụ dựng phong hóa, gây phong trào,
Để cho hai mươi lăm triệu đồng bào (được) mở mang.
Nguồn:
Bài vè do bà Nguyễn Thị Lữ ( sinh năm 1930, quê ở xã Quảng Lợi, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế) đọc, nhà nghiên cứu Trần Nguyễn Khánh Phong ghi, và công bố ở Tạp chí Huế xưa & nay, số tháng 4-6, 2007 (81), tr 101-102.
Theo lời giới thiệu của người sưu tầm, thì bài vè được bà Lữ đọc vào năm 2007, lúc này, bà đang sống với con cháu tại huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Bài vè ra đời khoảng đầu năm 1946.
Chú thích:
(1) Vận: vần.
(2) Năm thứ hai của chế độ dân chủ cộng hòa (tức năm 1946).
(3) Ý nói: không biết chữ tương tự như mắt bị mù, tai bị điếc.
(4) Cùng hang: thường nói: hạng cùng ngõ hẹp (chỉ nơi xa xôi hay xó xỉnh).
(5) Kể mà biết bao: không biết bao nhiêu mà kể; không kể xiết.
(6) Ý nói, ai cam chịu làm tay sai, làm trâu ngựa (cho bọn thực dân, phong kiến), thì có chức quyền lợi lộc.
(7) Ý nói, ai mà lầm đường lạc lối, phản bội lại Tổ quốc, thì được bọn thân dân, phong kiến yêu quý.
(8) Rơi hà: rớt xuống sông nước (?).
Người số hóa
Võ Hoàng Khanh
Người hiệu đính
Nguyễn Thị Thảo Như
