TỔNG TẬP VĂN HỌC DÂN GIAN XỨ HUẾ – VÈ, TRUYỆN THƠ (TẬP II)

1 tuần trước
  1. CHÚ RỂ TÁM CHỤC, CÔ DÂU HAI MƯƠI, 

VÀ BÀI THƠ “VÌ TÌNH, VÌ TIỀN”

 

  Khoảng giữa thế kỉ XX, tại đường Mai Thúc Loan, Thành Nội, Huế, có một ông lão tám mươi hai tuôi cưới một cô gái hai mươi tuổi. Chú rể đội khăn đóng tía, mặc áo gấm xanh, tuy phải chống gậy nhưng trông cũng quắc thước, bảnh bao. Cô dâu chít khăn vành, ra vẻ một mệnh phụ.(“)

  Lễ rước dâu được tổ chức linh đình, có cau lồng rượu ché, có kẻ bồng ngỗng (tượng trưng cho sự chung thủy), và có cả lính hầu mặc áo đỏ, quần bó xà cạp, đội nón dấu nữa. Thiên hạ kéo nhau đi xem rất đông. Và lời bàn tán cũng lắm. Người bảo, ông già kề miệng lỗ rồi mà còn mê gái tơ. Kẻ nói, cô gái trẻ trung là thế mà lại chui vào lấy ông già cho phí cái xuân xanh.

  Vân Am Nguyễn Bá Nhiệm đã giải thích đám cưới này bằng bài thơ sau:

                                                 VÌ TÌNH, VÌ TIỀN

                                                 Ông kia đã trở về già,

                                           Cùng cô gái nọ la cà kết duyên.

Có người lại bảo ông điên:

“Đã già sao lại còn nghiền gái tơ?”

Ông bèn vác gậy, ông quơ:

“Tuy ta già thật, nhưng ta thiếu tình”

                                                 Người kia lại bảo cô mình:

                                          “Gái tơ sao lại kết tình ông tra?”

                                                 Cô kia vừa nói vừa la:

“Tuy ta trẻ thật, nhưng ta thiếu tiền”

        Đời sao lắm chuyện cũng phiên,

                                           Vì tình là một, vì tiền là hai.

                                                 Hai điều cũng thiết cả hai,

                                           Mặc ma với đuốc, chê bai làm gì.

Thằng tôi cứ việc cười khì,

                                           Để cho thiên hạ mần chi thì mần!

    Nửa lời không dám can ngăn.

Nguồn:

HNGT 31-32.

(“) Mệnh phụ: Người đàn bà được phong phẩm tước, do chồng có công lớn với triều đình. Ở đây, chỉ dáng vẻ sang trọng, quý phái của nhân vật.

 

Người số hóa: Nguyễn Lương Minh Ngọc.

Người hiệu đính: Nguyễn Thị Thảo Như