Lý luận và phê bình văn học


22 định nghĩa về diễn ngôn

1 năm trước
Xin giới thiệu với bạn đọc 22 “đoạn trích” luận bàn về thuật ngữ “diễn ngôn”. Những đoạn trích này được rút ra từ cuốn Các lí thuyết diễn ngôn hiện đại: Phân tích đa ngành (Современные теории дискурса: мультидисциплинарный анализ- Екатеринбург: Издательский Дом “Дискурс-Пи”, 2006). Cuốn sách tập hợp công trình nghiên cứu của các học giả nổi tiếng Bỉ, Hà lan, Úc và Nga về lĩnh vực diễn ngôn.

Cơ sở nghiên cứu tiểu thuyết Việt Nam từ lý thuyết Carnaval của M.Bakhtin

1 năm trước
– PHAN TRỌNG HOÀNG LINH – Carnaval hóa là khái niệm do M.M.Bakhtin khởi xướng nhằm diễn đạt sự ảnh hưởng của carnaval (nghĩa từ nguyên để chỉ hội giả trang, nhưng với ông, nó bao quát phạm vi rộng hơn, gồm toàn bộ các hình thức phong phú và đa dạng của văn hóa lễ hội dân gian châu Âu) đối với văn học. Song, tán thành quan điểm của nhà nghiên cứu Trần Nho Thìn về “đối thoại liên văn hóa” khi tiếp nhận lí thuyết phương Tây vào nghiên cứu văn học Việt Nam , chúng tôi thấy cần xác lập cơ sở nghiên cứu từ ba phương diện: 1/ truyền thống tiếng cười dân gian Việt Nam, 2/ kí ức thể loại, và 3/ đời sống văn học nước ta thời Đổi mới.

Quan niệm diễn ngôn như là yếu tố siêu ngôn ngữ của nghiên cứu văn học

1 năm trước
*JURI RUDNEV* Xuất phát từ chỗ, tính chính xác về thuật ngữ là điều kiện cần phải được đảm bảo trong bất cứ công trình nào có tham vọng trở thành khoa học, cho nên ở đây chúng tôi xem xét diễn ngôn như là một khái niệm của lí luận văn học. Mục đích cuối cùng của tôi là đưa ra một định nghĩa của riêng mình về diễn ngôn.

Khái niệm diễn ngôn trong nghiên cứu văn học hôm nay

1 năm trước
*TRẦN ĐÌNH SỬ* Thời gian gần đây khái niệm diễn ngôn đã xuất hiện rất nhiều trong các bài nghiên cứu đủ loại, nhiều đến mức không sao có thể định nghĩa thông suốt hết. Đã có rất nhiều định nghĩa về diễn ngôn, theo các góc độ khác nhau, ngôn ngữ, văn hóa, song về lí luận văn hoc thì còn rất ít.… Nhiều định nghĩa được đưa ra trong cuốn sách Diễn ngôn học ở Nga năm 2006, hoàn toàn không thấy vấn đề văn học.

Diễn ngôn như một phạm trù của tu từ học và thi pháp học hiện đại

1 năm trước
* V.I. Chiupa* Giờ đây “diễn ngôn” đã trở thành khái niệm của khoa học liên ngành và khoa học đa ngành. Theo dõi quá trình hình thành và phát triển của thuật ngữ “diễn ngôn”, tôi nhận thấy: nếu các học giả Âu – Mĩ có công hoàn thiện thuật ngữ này như một phạm trù của ngôn ngữ học và xã hội học, thì M.M. Bakhtin và các nhà nghiên cứu Nga lại đặt nền móng để xây dựng khái niệm ấy thành một phạm trù của thi pháp học và tu từ học hiện đại. Về phương diện này, không thể không kể tới những đóng góp to lớn của hai Giáo sư Ngữ văn học nổi tiếng từng có dịp giảng dạy tại khoa Ngữ Văn Đại học sư phạm Hà Nội: Natan Davidovich Tamarchenko và Valeri Igorovich Chiupa.

Việt Nam thế kỷ XX và những xu hướng lựa chọn tư tưởng văn nghệ nước ngoài

1 năm trước
– LÃ NGUYÊN – Tiến trình tiếp nhận các tư tưởng văn nghệ nước ngoài vào Việt Nam từ đầu thế kỉ XX theo sát với lịch sử văn hóa – xã hội của dân tộc. Về đại thể, có thể chia tiến trình ấy thành 3 thời kì lớn: Từ đầu thế kỉ XX đến 1945, Từ 1945 đến 1986 và Từ 1986 đến nay. Do sau 1954, hai miền Nam – Bắc sống dưới hai chế độ chính trị khác nhau, cho nên thời kì 1945 – 1986 sẽ được tách thành hai phần: Sự tiếp thu các tư tưởng văn nghệ Nga – Xô, Trung Quốc vào Việt Nam giai đoạn 1945 – 1986 và vào miền Bắc sau 1954 và Sự tiếp thu các tư tưởng văn nghệ Âu – Mĩ vào miền nam Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975. Tùy thuộc vào bối cảnh lịch sử đặc thù của mỗi giai đoạn như thế, việc tiếp thu tư tưởng văn nghệ nước ngoài vào Việt nam sẽ có những ưu tiên lựa chọn riêng.

Nguồn gốc trần thuật

1 năm trước
– OLGA MIKHAILOVNA FREIDENBERG – Olga Mikhailovna Freidenberg (1890 – 1955) là nhà ngữ văn học cổ điển, nhà nghiên cứu văn hóa nguyên thủy và cổ đại. O.M. Freidenberg trở thành học giả lớn do bà nghiên cứu đối tượng theo quan điểm tiếp cận riêng. Ngay ở những công trình đầu tay, Freidenberg đã xác định quan điểm tiếp cận của mình là phương pháp “di truyền” để đối lập với phương pháp của các nhà tiến hóa luận. Từ hướng tiếp cận này, bà đã xây dựng cả một học thuyết mới mẻ, độc đáo về lịch sử văn hóa của nhân loại.

Lý luận văn học Việt Nam sau 1975 – Những giới hạn và sự hòa/hóa giải giới hạn

1 năm trước
– PHAN TUẤN ANH – Trong từng giai đoạn, lý luận văn học Việt Nam tồn tại trong những giới hạn khác nhau, cả khách quan lẫn chủ quan như một tất yếu của mọi giai đoạn lịch sử hay mọi nền lý luận văn học khác. Sự phát triển “chòng chành” mà tiến tới của lý luận văn học Việt Nam từ 1975 cho đến nay, chính là sự khắc phục những giới hạn đó để nỗ lực chấp nhận, dung hợp những “cái khác”, cái mới. Tuy nhiên, nhìn lại những giới hạn cũng như những nỗ lực hóa giải (khắc phục) những giới hạn ấy, chúng ta cũng đồng thời nhận ra những cuộc hòa giải (thỏa thuận, quân bình hóa) giữa cái cũ và cái mới, có thể dẫn đến những cơ hội đã bị bỏ lỡ, những cách tân chừng mực và những nghi án văn chương.

LỊCH SỬ TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN HUY THIỆP VÀ DẤU VẾT CỦA HỆ HÌNH THI PHÁP HẬU HIỆN ĐẠI

1 năm trước
– CAO KIM LAN – Để có một hình dung cụ thể hơn đòi hỏi sự nỗ lực, tìm tòi từ nhiều hướng và bài viết này chỉ hy vọng sẽ góp một phần nhỏ vào việc giải mã một số thông điệp xung quanh hiện tượng văn hoá này, từng bước tiếp cận với những biến động, những dịch chuyển của nền văn học nước nhà từ cái nhìn đơn lẻ của một hiện tượng văn học tiêu biểu: truyện ngắn viết về đề tài lịch sử của Nguyễn Huy Thiệp (Kiếm sắc, Vàng lửa, Phẩm tiết).

NHỮNG GIỚI HẠN CỦA PHÊ BÌNH VĂN HỌC HIỆN NAY

1 năm trước
– ĐỖ LAI THÚY – Cũng như sáng tác văn học, phê bình, như là sự tự ý thức của văn học, cũng có những giới hạn, tức một ranh giới có phần tự nhiên và cũng có phần nhân tạo, nên tuy không phá đổ được, nhưng cũng có thể lấn rộng, thậm chí vượt qua.