Biểu tượng ngôi sao trong truyền thuyết dân gian người Việt

2 năm trước

Nguyễn Thị Quỳnh Hương

Trên cơ sở khảo sát và thống kê, ngôi sao là biểu tượng có tần suất xuất hiện khá lớn trong truyền thuyết dân gian Việt Nam. Tuy nhiên, có một thực tế, trong truyền thuyết, duy chỉ có hai ngôi sao được gọi tên cụ thể (sao Vũ Khúc trong Sự tích Phượng Hoàng công chúa thời Lý và sao Cang trong Sự tích Đức Thiên Cang thời Hùng Vương), còn đa số ngôi sao đều được tác giả dân gian nhắc đến với tên gọi chung, chưa có sự phân loại hay cụ thể hóa. Và có một điểm kỳ lạ là trong ca dao, chúng ta vẫn có thể bắt gặp sao Mai (Đêm qua ra đứng bờ ao/ Trông cá cá lặn, trông sao sao mờ/ Buồn trông con nhện giăng tơ/ Nhện ơi nhện hỡi, nhện chờ mối ai/ Buồn trông chênh chếch sao Mai/ Sao ơi, sao hỡi nhớ ai sao mờ), thế nhưng ngôi sao này cũng không hề xuất hiện trong vai trò khởi sinh cho nhân vật của truyền thuyết. Sự không lựa chọn của tác giả dân gian, theo chúng tôi, có thể bởi nguyên nhân là tính dân dã của sao Mai không phù hợp để xây dựng nên phẩm chất cao cả của nhân vật. Hơn thế nữa, việc sử dụng hai ngôi sao (Vũ Khúc và Cang) đã cho thấy rất rõ sự ảnh hưởng mạnh mẽ của văn hóa Trung Quốc, đặc biệt thiên văn học cổ đến thuật chiêm tinh ở nước ta.

Trong khi đó, với công trình Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, Jean Chevalier, Alain Gheerbrant đã liệt kê cụ thể những ngôi sao mang ý nghĩa biểu tượng văn hóa của các dân tộc: sao Mai “báo hiệu sự tái sinh vĩnh viễn của ngày (nguyên lý hồi quy bất tận), là biểu tượng của chính bản nguyên sự sống”(1) (đối với người thổ dân vùng đồng cỏ: bộ tộc Pawnees, người Cora,…); sao Bắc Đẩu “có vai trò đặc quyền, là tâm điểm tuyệt đối quanh đó bầu trời quay mãi mãi”(2) (Phần Lan, Estonia, Mông Cổ, Trung Hoa, Ấn Độ…); sao Thổ “là thiên thể của công lý và luật pháp”(3) (người Sumérien và Babylon);… Mặc dù không có sự đa dạng và phong phú trong sự thể hiện nhưng ngôi sao trong truyền thuyết vẫn tiềm ẩn những giá trị và ý nghĩa riêng.

  1. Ngôi sao – một dạng biến thể của biểu tượng đá

Hình thức xuất hiện của ngôi sao trong truyền thuyết dân gian Việt Nam phần lớn là các dạng “sa vào miệng”, “sa vào bụng”, “sa xuống”. Và trong quá trình nghiên cứu đá trong truyền thuyết dân gian người Việt, chúng tôi cho rằng ngôi sao là một dạng biểu tượng biến thể của đá bởi những lý do sau:

Thứ nhất, truyền thuyết dân gian Việt Nam tồn tại hai cách thể hiện khi đề cập đến sao: một, được nêu cụ thể là “ngôi sao” (Sự tích Tản viên Sơn thánh, Sự tích Đức Thiên Cang,…) và hai, tác giả dân gian chỉ miêu tả “ánh hào quang như bạch ngọc”(4) (Sự tích Cao Sơn, Quý Minh đánh Thục), “bỗng thấy hai ngôi sao giáng xuống, ánh sáng tỏa vào thân bà”(5) (Sự tích Tản Viên Sơn Thánh cùng các vị Hiển Công, Minh Công và Phạm Hiếu, Phạm Thành, Phạm Lương đánh Thục), “đám hào quang rơi xuống(6) (Sự tích Thủy Hải và Đăng Quang thời vua Trưng), “ánh sáng của sao Vũ Khúc”(7) (Sự tích Cao Sơn đại vương thời Lý). Với cách thể hiện thứ hai, chúng tôi thiết nghĩ, tác giả nhấn mạnh vai trò ánh sáng của sao. Và đương nhiên với lối miêu tả trên, sao không thể là một dạng vật chất. Vì vậy, trong quá trình khảo sát, chúng tôi không xếp định dạng ánh sáng đó vào biểu tượng ngôi sao trong tiểu luận này.

Thứ hai, khi miêu tả quá trình tiếp nhận ngôi sao của người mẹ, sau thời điểm ngôi sao “sa vào miệng” thì người mẹ được tác giả dân gian chú ý đến hành động “nuốt”, “bỗng thấy trên trời hai ngôi sao rơi vào miệng, bà nuốt đi”(8) (Sự tích hai anh em Phạm Quang, Phạm Huy thời Lý). Do đó, với hành động đặc trưng trên, ngôi sao hiển nhiên không phải là hư vô, mà phải thuộc dạng vật chất.

Thứ ba, trong Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, Jean Chevalier, Alain Gheerbrant đã đưa ra một định dạng đặc biệt của đá, đó là “đá trời”, “đá trời được xem như một sự hiện hình của thần linh, một sự hiển hiện và một thông điệp của trời, cũng giống như một tia lửa trời, một hạt giống của thần linh rơi xuống đất”(9). Hơn thế nữa, trong biểu tượng đá trời, Jean Chevalier, Alain Gheerbrant còn ghi chép “Theo những tín ngưỡng nguyên thủy, các tinh đẩu đích thị là những thần linh”(10).

Từ cả 3 lý do trên, chúng tôi cho rằng trong truyền thuyết dân gian Việt Nam, ngôi sao có thể được tác giả dân gian nhìn nhận như một dạng đá trời. Ngoài ra, hình thức người mẹ thụ thai thông qua việc nuốt ngôi sao có đầy đủ cả hai biến dạng của motif sinh nở thần kỳ mà Trần Thị An đã khái quát: dạng kể trực tiếp (ngôi sao sa xuống người bà mẹ dẫn đến việc thụ thai) và dạng thụ thai qua giấc mơ (mơ thấy ngôi sao sa xuống). Trong cả hai biến dạng của motif sinh nở thần kỳ, ngôi sao đều mang giá trị của một hạt giống, đúng như cách lý giải của Jean Chevalier, Alain Gheerbrant về đá trời “những mảnh, mẩu mà các tinh cầu tách ra khỏi mình là những hạt giống”(11). Thậm chí, bên cạnh những nhân vật được sinh ra từ ngôi sao có đầy đủ cả hai đấng sinh thành cha và mẹ, truyền thuyết Sự tích Ngọn Côn và Thuấn Nghị đời Lê Thái Tổ còn kể về một cô gái 16 tuổi không thích lấy chồng, đang tu tại chùa thì mơ thấy ngôi sao sa vào miệng và sinh con trai. Nghĩa là những sinh linh bé nhỏ đó được tạo nên bởi một hạt giống ngôi sao và sự bảo bọc, nuôi dưỡng của cơ thể người mẹ [giống như phương pháp thụ tinh của y học hiện đại ngày nay – NTQH].

Như đã đề cập đến ở trên, có một vị thần trú ngụ trong ngôi sao nên tác giả dân gian cũng đồng quan điểm với sách Khải Huyền của Tân Ước cho rằng “những vì sao rơi từ trên trời xuống… là các thiên thần bị giáng”(12). Tuy nhiên, có một điểm khác biệt, sự giáng sinh của vị thần trú ngụ trong đá xuống trần gian trong truyền thuyết không phải là hình thức trừng phạt vì một tội lỗi nào đó, mà là thực hiện sứ mệnh thiêng liêng do Ngọc Hoàng giao phó. Điểm này gần giống lời tiên tri về ngôi sao sáng trên bầu trời và sự ra đời của Chúa Cứu thế trong Kinh Thánh. Bởi lẽ hầu hết nhân vật xuất thân thần kỳ từ ngôi sao đều giúp vua dẹp yên giặc giã, đem lại cuộc sống yên an cho nhân dân, thể hiện đặc trưng “nhân vật truyền thuyết ra đời do mong muốn của cộng đồng về người tài, họ cần phải có những phẩm chất cao cả để giải quyết những vấn đề đang đặt ra cho cộng đồng đó”(13).

Hơn thế nữa, “đá trời thi hành một sứ mệnh tương tự như sứ mệnh của thiên sứ: làm cho trời và đất liên thông. Đá trời là biểu tượng của một sự sống siêu đẳng, sự sống ấy nhắc cho con người biết về nó như một sứ mệnh hoặc được ban truyền cho con người”(14. Như vậy, ngôi sao là một trong những yếu tố mang đậm tính thần thoại để góp phần xây dựng nên “phẩm chất cao cả”/ nguồn gốc nhiên thần của nhân vật lịch sử. Hay nói cách khác, nhân vật lịch sử là kết tinh của trời và đất thông qua ngôi sao “đá trời” và người mẹ ở chốn trần gian, trên mặt đất.

Bên cạnh việc không xác định tên riêng, ngôi sao trong truyền thuyết không được tác giả dân gian dụng công để miêu tả. Điều này là một trong những khó khăn của chúng tôi khi nghiên cứu biểu tượng ngôi sao, bởi lẽ hầu như không có thêm bất kỳ thông tin cụ thể nào về hình dáng, màu sắc hay tính chất đậm/ nhạt của ánh sáng tỏa ra từ ngôi sao. Vì vậy, theo chúng tôi, ở ngôi sao, mặc dù không đề cập một cách rành mạch, rõ ràng nhưng tác giả dân gian có thể đã chú trọng đến 2 tính chất đặc thù của ngôi sao: thứ nhất là “tính cách soi sáng, nguồn ánh sáng”(15) và thứ hai là “ý nghĩa thuộc về trời”(16). Và hai tính chất trên sẽ là sợi dây xuyên suốt liên kết ngôi sao và xuất thân/ hành trạng/ cái chết thần kỳ của nhân vật lịch sử.

  1. Ngôi sao – hiện thân của nhân vật lịch sử

Trong tiểu luận này, chúng tôi chỉ xin đề cập đến ngôi sao trong dạng kể trực tiếp của motif sinh nở thần kỳ [tức là ngôi sao xuất hiện trong đời thực – NTQH] và ngôi sao trong cái chết thần kỳ của nhân vật truyền thuyết. Còn dạng ngôi sao sa xuống trong giấc mơ, chúng tôi sẽ trình bày kỹ trong một tiểu luận khác.

Truyền thuyết Sự tích Đức Thiên Cang thời Hùng Vương kể rằng hai ông bà Kinh Bắc Quận vương tuổi đã cao mà chưa có con trai, nên quyết định đến chùa Cổ Pháp (tức chùa Đình Bảng) để cầu tự. Sau đó, Đức Quận vương mơ thấy “một người râu tóc bạc, mũ áo chỉnh tề, đứng trước tam quan, tay gõ vào cửa mà hát rằng: Tiêu Sơn trung lĩnh hữu hoa khai/ Thất khẩu oa hề, pháp thánh tài/ Cang Đế tinh quân giai chính vị/ Oa tâm hữu bảo báo tri tai (Tiêu Sơn trong núi có hoa cười/ Bảy huyệt oa chừ phát thánh tài/ Cang Đế tinh quân ngồi chính vị/ Lòng oa huyệt báu báo cho hay)”(17). Tin lời báo mộng, Đức Quận vương làm lễ tạ Phật và nhanh chóng về chùa Tiêu Sơn để cầu đảo. Khi đi viếng cảnh núi Tiêu Sơn, hai ông bà phát hiện “một cái cửa oa, tức là cái huyệt hình như cái hoa sen phong nhị, trong lòng huyệt có vết chân to nhớn, dài hơn 3 thước”(18). Nhớ bài hát của cụ già trong giấc mộng, ngài truyền gia nhân táng mộ cha ngài vào huyệt đó. Một trăm ngày sau, lúc “hai ông bà ngồi chơi thưởng nguyệt trông mây, tự nhiên có một ngôi sao sa bay vào miệng. Đức thánh bà nuốt mất sao”(19). Từ đó, bà Chính phi tự nhiên có thai.

Ở truyền thuyết này, ngôi sao lần đầu tiên được định danh. Tuy nhiên, việc gọi tên ngôi sao lại xuất hiện trong giấc mơ của Đức Quận vương với cụm từ “Cang Đế tinh quân”(20). Như vậy, ngôi sao sa vào miệng bà Đức thánh bà chính là sao Cang và đứa trẻ sẽ được bà sinh ra là hiện thân của vị thần cai quản/ trú ngụ ở sao Cang.

Chúng tôi thiết nghĩ cần giới thiệu kỹ hơn về ngôi sao Cang bởi lẽ đây không phải là tên gọi phổ thông, được nhiều người biết đến. Thiên văn học cổ đại của Trung Quốc đã quan sát bầu trời và phát hiện, định danh 28 ngôi sao (ngôi sao chính có một quỹ đạo riêng, kéo theo một chòm sao khác) ở kề đường Hoàng đạo xích đạo. Họ xem đó là những “định tinh, đứng nguyên một chỗ, nên có thể dùng làm mốc để tính vị trí chuyển dịch của mặt trời, mặt trăng và năm sao Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ thuộc hệ mặt trời”(21). Trong đó, sao Cang thuộc chòm sao Thanh Long (Rồng xanh) ở phương Đông [chòm sao này gồm 7 ngôi sao: Giác, Cang, Đê, Phòng, Tâm, Vĩ, Cơ – NTQH]. Và sao Cang được quy định do Rồng làm chủ quản, thường gọi là Cang Kim Long [Kim là hành chủ và Long là vật chủ – NTQH]. Điều đáng tiếc chúng tôi vẫn chưa tìm được tài liệu nào lý giải vì sao người Trung Quốc mặc định 28 ngôi sao với 28 con vật tương ứng, xem là vật chủ của sao. Nếu dựa trên hình dáng thì sao Cang và những ngôi sao trong quỹ đạo của nó không tạo ra hình dáng của con rồng. Khi tìm hiểu về thiên văn học cổ Trung Quốc, Léopold de Saussure còn gọi sao Cang là sừng rồng, “Vậy, sao Giác, sao Cang (sừng rồng) là tượng trưng cho ngày Lập Xuân Trung Hoa” (Le Palais du Printemps commence au moment òu s’élève à l’horizon de l’Est la pleine lune acronyque (c’est à dire au moment même où le soleil se couche à l’Ouest) ayant à sa droite étoile Arturus) (Léopold de Saussure, Les Origines de l’Astronomie chinoise, p. 280-281, trích theo http://nhantu.net/BienKhaoTongQuat/ThienVan/ThienVan4.html).

Vậy nên, bên cạnh chữ “Đế” của cụm từ “Cang Đế tinh quân”(22), vật chủ là Rồng của sao Cang đã góp phần giải thích mệnh lớn của đứa con mà ông trời đã ban cho vợ chồng Đức Quận vương. Thế nhưng, ngoài những dấu hiệu thể hiện tính thiên của nhân vật như ngày Chính phi sinh “giời đất tối tăm, gió mưa mù mịt,… tự nhiên mùi hương bay ngào ngạt, hào quang sáng rực khắp trong ngoài, bà Chính phi sinh được một người con giai, mặt mũi khôi, mày ngài mắt phượng”(23), hay thiên chất “6 tuổi, mình cao tám thước, mặt mũi khác thường, lên rừng hồ bao lại chầu, xuống sông các giống cá đều phục”(24), “13 tuổi, văn võ tinh thông, hùng tài trí dũng, đi ngoài đường có đám mây che, nằm trong cung hào quang sáng khắp”(25) thì Cang công còn tự hiển linh để xưng danh.

Trong một lần vua Hùng Huy Vương tổ chức thi tài giữa 15 bộ để thưởng tước, vào đêm hôm trước, vua đã nằm mộng thấy “một người, mình cao 8 thước, vào giữa sân rồng bái yết. Vua hỏi họ, tên, người ấy tâu rằng: “Tôi là Thiên Cang thần tướng, phụng Ngọc Hoàng xuống trần giúp nước trừ tà”(26). Và vào buổi chầu ứng thí ngày hôm sau, vua “thấy một người hình dáng y như người trong mộng”(27). Điều này hoàn toàn khác với motif hiển linh thường gặp trong truyền thuyết, đó là nhân vật hiển linh ngay trong kiếp sống của nhân vật, không phải ở thời điểm là thần linh chưa giáng sinh hay khi đã “hóa” vào thế giới bất tử. Nghĩa là hoàn toàn khác với những nhân vật có nguồn gốc nhiên thần, hành trạng của Cang Công vẫn có sự gắn kết chặt chẽ với xuất thân và phần nào đó là có phép màu.

Và trong lần hiển linh này, nhân vật chỉ xưng danh là “Thiên Cang thần tướng”(28), không hoàn toàn trùng khớp với cái tên “Cang Đế tinh quân”(29) nhưng vẫn đảm bảo hai đặc điểm: sự giáng sinh của vị thần sao Cang và tính trời mà nhân vật sở hữu. Ngoài ra, nhân vật Cang Công từ lúc còn bé đến khi trưởng thành, hóa đi đều thể hiện những phẩm chất cao quý, mang tính soi sáng, diệt tà giúp nước. Với những ngôi sao được định danh như trường hợp này, dường như những ngụ ý của tác giả dân gian gởi gắm vào nhân vật, phẩm chất của nhân vật trong truyền thuyết rõ ràng và cụ thể hơn.

Trong truyền thuyết Sự tích Hùng Hải, Đỗ Huy thời Hùng Vương, ngôi sao không phải là sự khởi sinh như huyền thoại về Đức Thiên Cang mà mang tính chất quy hồi của nhân vật ở giai đoạn “hóa” vào thế giới bất tử. Điểm đặc biệt của truyền thuyết này, đó là tác giả dân gian không giới thiệu nguồn gốc của nhân vật mà chỉ tập trung miêu tả hành trạng và cái chết thần kỳ.

Về hành trạng của Đỗ Huy – Bộ quân đại tướng, truyền thuyết giới thiệu hai câu chuyện đậm chất chiến công của nhân vật: Thứ nhất là ông đã cùng Thủy quân đại tướng Hùng Hải giúp vua Hùng Duệ Vương trị thủy tại bộ Giao Chỉ. Sau khi hai ông cho quân đào kênh mương tiêu nước, đắp đê ngăn nước biển dâng và xuất lúa kho nuôi dân thì “từ đấy thủy tai chấm dứt, tật dịch đều yên, thóc lúa phong đăng, tằm tơ tươi tốt, trong khoảng vài năm, dân chúng ven biển bộ Giao Chỉ của lắm vật nhiều, ăn no mặc ấm”(30; Thứ hai, Đỗ Huy và Hùng Hải còn lãnh đạo bộ binh tiến xuống biên giới phía Nam, khiến “quân nước Hồ Tôn thua trận bỏ chạy về nước”(31).

Sau đó, khi mọi nhiệm vụ vua giao đã hoàn thành, truyền thuyết kể rằng “Một hôm tướng quân Đỗ Huy đang chầu trước ngự tiền, bỗng nhiên trời đất tối tăm, một ngôi sao từ trong mình tướng quân bay ra như dải lụa dài, nhằm thẳng hướng đông vút đi hào quang sáng chói. Trong giây lát, trái đất lại trong sáng”(32). Nếu so sánh với hành trình biến đổi của trời đất ở thời điểm Đức Thiên Cang ra đời trong truyền thuyết Sự tích Đức Thiên Cang thời Hùng Vương thì có vẻ trời đất khi Đỗ Huy hóa cũng có sự tương đồng: trời đất bỗng nhiên tối tăm và rồi lại sáng trong. Hay nói cách khác vì là thần linh giáng sinh/ quy hồi nên trời đất cũng có những dấu hiệu riêng, báo hiệu một biến động của nhân sinh.

Chi tiết “ngôi sao từ trong mình tướng quân bay ra như một dải lụa dài, nhằm thẳng hướng đông vút đi trong hào quang sáng chói”(33) đã phản ánh rất rõ sự quy hồi về trời của nhân vật. Và việc chọn “hướng đông” để nhân vật quy hồi lại hàm chứa giá trị sinh, chứ không phải tử bởi lẽ đó là hướng mặt trời mọc cho một ngày mới bắt đầu. Ngoài ra, nếu xét theo bát trạch của Kinh dịch [8 hướng (Đông, Đông Bắc, Đông Nam, Tây, Tây Bắc, Tây Nam, Nam, Bắc) tương ứng với 8 quẻ (Chấn, Cấn, Tốn, Đoài, Kiền, Khôn, Ly, Khảm) – NTQH] thì hướng chính Đông trong động vật là biểu tượng của rồng. Điều này đã cho thấy dẫu không hề đề cập đến xuất thân nhưng những chiến công phi thường và đặc biệt, cái chết thần kỳ đã góp phần thể hiện ngụ ý của tác giả dân gian về nguồn gốc cao cả của nhân vật. Hơn thế nữa, chi tiết hóa thành ngôi sao mang ý niệm “sự vươn lên trạng thái của sao trời”(34) vì biểu tượng sao là “đặc trưng cho cuộc sống vĩnh hằng của những con người chính trực”(35). Và cũng chính bởi nét dị thường hóa thành ngôi sao này, vua Hùng Duệ Vương đã “tặng phong cho Đỗ tướng quân làm Chiêm Huy Linh ứng Đại vương”(36).

Trong Sự tích Doãn Công dẹp giặc Tô Định, tính liên kết giữa ngôi sao và nhân vật càng chặt chẽ hơn vì đây là một truyền thuyết có sự kết hợp ngôi sao trong cả hai motif sinh nở thần kỳ và cái chết thần kỳ của nhân vật.

Ngôi sao trong motif sinh nở thần kỳ của truyền thuyết này không được định danh, mà chỉ gọi tên chung, “ngài là con đức Cao Nguyên công, khi đức thánh mẫu thụ thai, có một ngôi sao từ trên trời sa xuống mồm, đức thánh mẫu nuốt đi”(37). Doãn công được tác giả dân gian miêu tả với diện mạo khác thường “thân thể cao lớn, tay dài quá gối, mắt sáng như sao, thực là người tuấn kiệt”(38) và tư chất thông minh “học một biết mười, được mấy năm văn chương đều thông quán cả, lại kiêm võ nghệ, có tài thao lược”(39). Ở nhân vật này, sự dụng công của tác giả không dành cho ngôi sao, mà nhằm để tỏa sáng vẻ đẹp phi thường và những phẩm chất đặc biệt của Doãn Công. Điều đó phần nào cũng ánh xạ đặc tính ánh sáng của sao trong nhân vật.

Sau khi cha Doãn Công mất, ông được Nguyễn Tín Công nhận làm con nuôi. Sự kiện này bắt nguồn từ một giấc mộng của Nguyễn Tín Công, ông “nằm mộng thấy một người mặc áo xanh, cầm lá cờ xanh đến báo mộng cho ông Nguyễn Tín Công biết, sáng mai có quý khách đến nhà, chính là vị thần linh giáng thế, đến đầu thai làm con nuôi, sau này giúp nước bảo dân”(40). Nhân vật mặc áo xanh hiển linh trong giấc mộng đã một lần nữa chỉ rõ thiên tính của Doãn Công, bởi lẽ đây chính là “vị thần linh giáng thế” và có một sứ mệnh được giao phó.

Hai vợ chồng Doãn Công giúp Bà Trưng dẹp xong giặc Tô Định, một hôm, “tự nhiên trời nổi cơn mưa, gió to giời đất tối tăm, nhân dân trông thấy chỗ đức Doãn Công ngồi có một ngôi sao to bay thẳng lên trời. Sau đó trời đất lại sáng, mưa gió lại tạnh”(41). Sự biến đổi của trời đất vào thời khắc Doãn Công hóa có nét tương đồng với ngài Đỗ Huy trong Sự tích Hùng Hải, Đỗ Huy thời Hùng Vương. Tuy nhiên, cũng có một nét khác biệt, nếu như kết thúc quá trình hóa ngôi sao của nhân vật Đỗ Huy không được tác giả dân gian miêu tả kỹ thì ở Sự tích Doãn Công dẹp giặc Tô Định, truyền thuyết kể “đức Doãn Công thì không thấy đâu nữa, chỉ thấy khăn áo của ngài còn lại”(42). Nghĩa là nhân vật đã hóa hoàn toàn, không chỉ linh hồn mà cả thể xác.

“Trong quan niệm của người kể truyền thuyết, người anh hùng được sinh ra từ tự nhiên, trở về với tự nhiên, thành khí thiêng sông núi, hồn thiêng dân tộc, có sức sống trường tồn”(43). Và với biểu tượng ngôi sao ở truyền thuyết này, tác giả dân gian đã có sự đồng nhất nguồn gốc/ thân thế nhân vật một cách triệt để. Doãn Công được sinh ra từ hạt giống ngôi sao và thân xác ấy khi trở về cõi cao xanh cũng với dáng vẻ của một ngôi sao, đủ một vòng tròn của đời người/ đời giáng sinh. Song ngôi sao ở cái chết thần kỳ là sự vượt lên trên giới hạn của nhân gian để đạt đến tầm vũ trụ, bất biến, bất diệt.

Vậy nên dẫu chỉ mới đề cập đến ngôi sao xuất hiện trong đời thực của truyền thuyết nhưng chúng tôi cho rằng không khó để xác định lớp nghĩa khởi sinh sự sống và những phẩm chất phi thường mà tác giả dân gian gởi gắm trong biểu tượng. Dường như ngôi sao – đá trời đã trở thành một biểu tượng cho sự liên thông của trời đất ở nhân vật. Đồng thời, đây cũng là biểu tượng thể hiện rất rõ sự ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc trong đời sống và văn hóa của người Việt. Một mạch nguồn len chảy và tăng thêm những tầng nghĩa của biểu tượng ngôi sao nói riêng và truyền thuyết dân gian Việt Nam nói chung.

______________________

(1), (2), (3), (9), (10), (11), (12), (14), (15), (16), (34), (35) Jean Chevalier, Alain Gheerbrant (2002), Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, NXB Đà Nẵng, Đà Nẵng, tr.796, tr.796, tr.801, tr.274, tr.274, tr.274, tr.794, tr.274, tr.794, tr.794, tr.794, tr.794.

(4), (5), (6), (7), (8), (17), (18), (19), (20), (22), (23), (24), (25), (26), (27), (28), (29) Kiều Thu Hoạch (chủ biên) (2004), Tổng tập văn học dân gian người Việt, tập 4 (Truyền thuyết), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.195, tr.202, tr.441, tr.907, tr.938, tr.284, tr.284, tr.284, tr.284, tr.284, tr.284, tr.285, tr.285, tr.285, tr.285, tr.285, tr.284.

(13), (43) Trần Thị An (2014), Đặc trưng thể loại và việc văn bản hóa truyền thuyết dân gian Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.113, tr.118-119.

(21) Nhị thập bát tú, http://www.xemngay.com/webLog.aspx?blog=wld&postid =25.

(30), (31), (32), (33), (36), (37), (38), (39), (40), (41), (42) Viện Nghiên cứu văn hóa (2009), Tinh hoa văn học dân gian người Việt, Truyền thuyết dân gian người Việt, quyển 1, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.140, tr.140, tr.141, tr.141, tr.141, tr.36, tr.36, tr.36, tr.36, tr.37, tr.37.